|
THIỀN TRỊ LIỆU | Tâm lý trị liệu trên nền tảng Thiền Phật giáo
Thiền và Tâm lý trị liệuĐạo Phật du nhập vào phương Tây thông qua thiền. Năm 1975, Herbert Benson đã viết tác phẩm “Hồi đáp trong thư thái”[1], trong đó ông đã thuật lại những thay đổi về thể chất và tâm lý trong các hình thức thiền khác nhau. Theo liệt kê của ông, có giảm nhịp tim, nhịp thở, huyết áp và sự tiêu hao ôxy. Nồng độ axit lactic (vốn có hại cho các tế bào não) cũng giảm và có một sự tĩnh tại bao trùm hệ thống thần kinh. Sức đề kháng của da tăng lên đáng kể, sóng alpha và theta của EEG[2] (điện não đồ) cũng tăng đã phản ánh trạng thái tĩnh tại hơn bao trùm não bộ. Giờ đây chúng ta biết rằng chính “sự hồi đáp trong thư thái” của quá trình thiền là cơ sở sinh học thần kinh và vật lý cho việc thực hành thiền để trị liệu. Một người hành thiền đều đặn sẽ phát triển sự hiểu biết về thực thể nhân cách (của chính mình), tinh thần trách nhiệm và định lực. Các phương pháp thiền của Đạo Phật giúp xây dựng niềm tin, ứng xử đạo đức, sự rộng lượng, lòng bi mẫn và từ tâm nơi hành giả. Đặc biệt, thiền giúp tăng trưởng năng lực tự kiềm chế, nó cho chúng ta tiếp cận những hình ảnh và xúc cảm còn lẩn khuất trong chính tâm thức mình. Thông qua thiền, chúng ta có thể dung nạp, chấp nhận quá khứ của mình và cũng có thể đối mặt với các vấn đề về thời gian, trải nghiệm những đổi thay, hay đương đầu với sự mất mát và cái chết. Thiền giúp hợp nhất thân thể và tâm trí chúng ta, nó cũng đặc biệt hữu dụng đối với các cá nhân được chẩn đoán sang chấn tâm lý[3]. Liên quan tới những diễn biến tâm lý khi thiền, Chánh niệm tạo nên một vòng hoạt động làm tăng cường sự tự vận hành các chức năng (não bộ), đưa đến hoàn thiện một thực thể nhân cách lành mạnh hơn – mà cảm quan về nhân cách này giúp tác động lên năng lực tùy chỉnh (của tâm thức). Tiến trình này theo đó sẽ góp phần phát triển một tổ hợp nhân cách lớn hơn, đưa đến sự thấu hiểu các đặc tính cá nhân, và quay lại củng cố tâm thái phù hợp. Sự dung hợp [kì diệu] này giúp chúng ta tiếp cận những dữ kiện của tầng vô thức trong tâm trí, sau đó sẽ lại được chú tâm xử lý trong quá trình thiền. Có ba chương trình trị liệu chính hướng dẫn thực hành Chánh niệm cho các bệnh nhân. Liệu pháp Giảm thiểu Lo âu trên nền tảng Chánh niệm (MBSR) được khởi xướng bởi GS. Jon Kabat-Zinn để chữa trị cho các bệnh nhân mãn tính tại bệnh viện của một trường đại học. MBSR được triển khai cho nhóm, chia thành các buổi với thời lượng hai tiếng rưỡi kéo dài trong 08 tuần. Bài tập về nhà bao gồm 45 phút thiền mỗi ngày, sáu ngày mỗi tuần. Bài thực hành chính là ngồi thiền và chú tâm yoga. Khóa trị liệu cũng bao gồm phương pháp thiền quan sát thân thể, ở đó bệnh nhân nằm xuống và theo dõi các cảm giác trên thân. Chánh niệm trong đời sống hàng ngày bao gồm đi, đứng và ăn. Cho đến nay trong vòng 02 năm, 12,000 bệnh nhân đầu tiên đã tham gia. Trong suốt khóa trị liệu, các triệu chứng về thể chất và tâm lý đã giảm xuống khoảng 40%. Sau 04 năm khảo sát, hiệu quả vẫn được duy trì và 93% số bệnh nhân vẫn tiếp tục tham gia vào một phần của chương trình trị liệu. Những kết quả ấn tượng này đã khích lệ các nhà trị liệu khác đưa chánh niệm tích hợp vào bộ phương pháp trị liệu của họ. Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm[4] (MBCT) đã được Segal và các cộng sự xây dựng (và cải tiến) để ngăn ngừa sự tái phát chứng trầm cảm mãn tính. Đây là một cách chữa trị dưới dạng cẩm nang hướng dẫn thực hành MBSR nhưng không có yoga. Không gian thở 3-phút được chú trọng thực hành như một kỹ năng cốt lõi. Góc nhìn chánh niệm trong MBCT là sự hay biết rằng “suy nghĩ không phải sự kiện thực” và rằng chúng ta có thể để các suy nghĩ đến và đi, thay vì cố gắng tranh luận về sự tồn tại của chúng như trong thực nghiệm Liệu pháp nhận thức hành vi[5] (CBT) truyền thống. Liệu pháp hành vi biện chứng[6] (DBT) được định hình bởi Marsha Linehan để giúp các bệnh nhân bị Rối loạn Cảm xúc Lưỡng cực – những người gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc. Các kỹ thuật chánh niệm trong DBT[7], ứng dụng từ truyền thống Zen cùng sự thực hành của Thày Thích Nhất Hạnh (1976), được coi là kỹ năng cốt lõi hướng dẫn cho nhóm 2 hoặc 3 thành viên trong các khóa trị liệu. Chúng bao gồm việc đếm hơi thở, mỉm cười tĩnh tại, tập trung hay biết các hoạt động thực tại, gọi tên cảm xúc, để cho ý nghĩ đến và đi, thực hành không phán xét, làm một việc một lúc, chấp nhận hoàn toàn các cảm xúc, và tưởng tượng rằng tâm trí giống như một bầu trời lớn với những ý nghĩ và cảm xúc như những đám mây trôi qua. Trọng tâm của liệu pháp DBT là giúp người bệnh cải thiện các mối quan hệ liên cá nhân của họ. Hakomi, được tạo ra bởi Ron Kurtz, là một liệu pháp lấy thân thể làm trung tâm. Phương pháp cơ bản của nó là tạo ra một mối quan hệ cho phép bệnh nhân thiết lập chánh niệm, khơi dậy các trải nghiệm trong trường chánh niệm ấy và xử lý các trải nghiệm được khơi dậy. Vì vậy, bước đầu nhà trị liệu cần tạo ra một mối quan hệ an toàn để tạo thuận lợi cho việc thiết lập chánh niệm. Nhà trị liệu và thân chủ sử dụng chánh niệm nhằm mục đích tăng trưởng độ nhạy cảm. Độ nhạy cảm này là cần thiết để thân chủ đi sâu hơn vào tiềm thức, và khơi dậy các trải nghiệm về thái độ cảm xúc và niềm tin cốt lõi. Khi thực hiện liệu pháp, nhà trị liệu sử dụng các trải nghiệm được khơi dậy để giúp thân chủ hiểu [sự kiện] và thay đổi. Dữ kiện lõi (trong tầng vô thức) vốn không thể tiếp cận được nhờ trí thông minh, mà phải qua chánh niệm và sự giáo dục. Do đó, liệu pháp Hakomi sẽ hoạt động trong các trạng thái hay biết của ý thức. Thomas Morita là người sáng lập ra phương pháp trị liệu Morita, một liệu pháp được sử dụng ở Nhật Bản mang đậm truyền thống Zen. Theo Morita, các vấn đề của bệnh nhân là hệ quả của việc bị cầm tù trong chính “sự chủ quan” và ích kỷ bản thân. Phương thuốc là thực hành Zen (thiền) và khuyến khích việc chấp nhận mọi thứ như chúng đang là (vậy). Liệu pháp hướng về Quá trình cốt lõi được xây dựng bởi Maura Sills. Việc huấn luyện trị liệu Quá trình cốt lõi dựa trên bản chất có thể chuyển hóa của nhận thức. Nhà trị liệu tâm lý Phật giáo tham gia và có mặt cùng với thân chủ. Phương pháp này bao gồm các nguyên lý căn bản của Đạo Phật là sự tương thuộc và ba đặc tính của pháp hữu vi, đó là: sự bất toại nguyện (dukkha), vô thường (anicca) và bản chất ảo tưởng về tự ngã (anatta). Nhà trị liệu tâm lý Phật giáo trực tiếp đề nghị song hành cùng thân chủ đi qua trải nghiệm tâm lý và tâm linh của họ. Lòng bi mẫn của nhà trị liệu được chú trọng như một phẩm chất tất yếu. Loại hình trị liệu tâm lý này đặc biệt dựa trên năng lực chuyển hóa của mối quan hệ trị liệu. Mỗi buổi trị liệu là một buổi thực hành giữa thân chủ và nhà trị liệu trên nền tảng các triết lý và giá trị của Đạo Phật. Nguyên tác Tiếng Anh: Dr. Eng-Kong Tan (2006) Nhóm dịch giả Thiền Trị Liệu (2022) [1] “The Relaxation Response” [2] An electroencephalogram (EEG) is a recording of brain activity. During this painless test, small sensors are attached to the scalp to pick up the electrical signals produced by the brain. These signals are recorded by a machine and are looked at by a doctor. Tham khảo: https://www.nhs.uk/conditions/electroencephalogram/#:~:text=An%20electroencephalogram%20(EEG)%20is%20a,looked%20at%20by%20a%20doctor. [3] Psychosomatic conditions: Bệnh lý về thể chất không rõ nguyên nhân, thường được gây ra bởi những căng thẳng hay rối loạn cảm xúc. Tham khảo: https://www.britannica.com/science/psychosomatic-disorder [4] Mindfulness Based Cognitive Therapy (MBCT) [5] Cognitive Behavioural Therapy (CBT) [6] Dialectical Behavioural Therapy (DBT) [7] Tham khảo: http://bvttdongthap.vn/?ifsoft=nws&uid=des&id=21&sid=11189 Comments are closed.
|
Quang HằngVới sự hứng thú trong Thiền, Phật học ứng dụng, và Sức khỏe tâm lý, các bài viết được góp nhặt và đăng tải với hy vọng giúp Đạo hữu và cư sĩ hiểu hơn về lợi ích của Thiền trong Tâm lý trị liệu. Archives
October 2024
Categories
All
|
RSS Feed
