|
THIỀN TRỊ LIỆU | Tâm lý trị liệu trên nền tảng Thiền Phật giáo
|
Kiểm soát cảm xúc là khả năng điều chỉnh – tức là, thay đổi và chuyển hóa các trải nghiệm cảm xúc của một người. Sự điều tiết cảm xúc khác với việc kiềm chế hay cất giấu cảm xúc cá nhân, và cũng khác với việc giải tỏa cảm xúc khi một người thể hiện hoặc bộc lộ mạnh mẽ các cảm xúc của họ. Những cách đánh giá (có ý thức) kém hiệu quả về một tình cảnh áp lực hoặc nhiều thách thức bao gồm tự trách cứ, dằn vặt (tái hiện những ký ức và cảm xúc khó chịu), bi kịch hóa vấn đề (nghĩ về hoàn cảnh theo kiểu nó tồi tệ hơn trong thực tế) và đổ lỗi cho người khác. Những cách đánh giá (có ý thức) về cảm xúc cá nhân có tính hiệu quả hơn bao gồm chấp nhận, tái tập trung tới các mặt tích cực (hướng sự tập trung của một người tới những thứ khác không liên quan hoặc dễ chịu), đánh giá tích cực (nhìn thấy những mặt tích cực từ tình huống khó khăn) và thay đổi góc nhìn. Dưới đây là bảng hỏi đánh giá khả năng điều tiết cảm xúc của bạn thông qua một chuỗi những tiến trình nhận thức, chẳng hạn như tái đánh giá tích cực (suy ngẫm lại một cách tích cực hơn về sự kiện tạo nên cảm xúc), chấp nhận, dằn vặt và tự trách mình. Hãy cho biết bạn suy nghĩ thường xuyên tới mức nào khi trải qua các sự kiện căng thẳng trong đời hoặc có tính đe dọa mạnh mẽ theo những cách dưới đây nhé. (Tú Anh)
--------- Liên hệ Thiền Trị Liệu Youtube: https://www.youtube.com/@Thien-Therapy Email: [email protected] Hotline: +84705199649 (Zalo,Whatsapp) Một gánh nặng trên vai. Một cuộc đời tai hại. Sống thảm bại dưới mốc thời gian. “Bạn”, “Tôi”, “Chúng ta” đã làm gì trong ngần ấy năm? Chạy theo những điều “phù phiếm” mà không có một con đường “tự do” cho riêng mình? “Tự do” là tự tại, không ràng buộc, nhưng dường như chúng ta vẫn bị tài, danh, lợi, sắc dục, thức ăn và sự ngủ nghỉ chi phối, trói buộc. Và chúng ta cho rằng điều đó là hạnh phúc, nhưng đâu biết rằng nó dẫn chúng ta vào chốn đoạn trường. “Kiếp phù sinh” như cơn gió mong manh thoáng qua, như cây khô sắp gãy nhánh lìa cành, không mang vẻ lấp lánh thanh cao, chỉ là một kiếp người lao đao nơi vực thẳm. Ta dành cả đời để chạy theo cái gọi là hạnh phúc tạm thời, như con thiêu thân lao vào lửa, cho đó là hạnh phúc thật sự. Rồi những buồn, vui, sợ hãi, ái ố, ganh ghét, đố kỵ, tham lam, sân hận, si mê bao lấy khiến ta sống một cuộc đời tai hại và tầm thường. Vậy, có phải đó là hạnh phúc mà ta đang tìm kiếm, hay chỉ là ngục tù bức bách giam giữ bản thân? Có cách nào thoát khỏi ngục tù này để tìm hạnh phúc chân thật không? Sở dĩ ta đau khổ là vì ta không quay vào nhìn nhận bên trong, mà cứ mãi chạy ra bên ngoài. Thấy cái hào nhoáng của thế gian rồi cho rằng đó là hạnh phúc, để rồi rơi vào vòng xoáy khổ đau. Lúc này, đạo Phật như sợi dây cứu sinh, giúp ta thoát khổ, tìm lại hạnh phúc, vì giáo lý của Phật dạy ta quay vào bên trong, nhìn vào nội tâm mình, “phản quang tự kỷ.” Và thiền quán hay thiền tứ niệm xứ có thể nói là giải pháp hiệu quả nhất giúp ta thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống khi tự nhìn nhận chính mình. "Thiền", theo tác giả, là không chạy theo ngoại cảnh, không tư tưởng, nhớ nhung. "Quán" là quan sát, thấy, biết, nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn. Thiền hiểu đơn giản là phương pháp tập trung vào một đối tượng cụ thể như hơi thở, hoặc một ý tưởng trừu tượng, để nhìn sâu vào bản chất thật của sự tồn tại. Khác biệt hơn hết, mục tiêu của thiền quán là đạt được sự tĩnh lặng trong tâm và giác ngộ. Trong thiền quán, người thực hành tập trung vào hiện tại và chấp nhận mọi suy nghĩ, cảm xúc mà không phán xét. Bằng cách quan sát chân thực, người tu hiểu rõ hơn về bản chất của tâm trí và tự thân. Chẳng hạn, khi ngồi thiền, cảm giác đau do ngồi lâu khởi lên, nhưng thay vì chạy theo dòng suy nghĩ bứt rứt, người thiền quan sát và thấy rõ cơn đau đó là giả. Thiền “Tứ Niệm xứ” là sự tĩnh lặng nhìn nhận quan sát 4 đề mục để thoát khổ: thân, thọ, tâm, pháp. “Quán thân bất tịnh, Cảm thọ là khổ, Tâm là vô thường, Pháp là vô ngã”. Trong đó quán tâm theo chiêm nghiệm của tác giả được xem là một đề mục quan trọng để đoạn diệt tham, sân, si. Thấy được bản chất của tâm một các rõ ràng nhất. Như Hòa thượng Viên Minh dạy: “Tất cả mọi sự trên đời này điều có một ý nghĩa duy nhất, đó là xem thử phản ứng của tâm mình như thế nào”. Đau khổ cũng từ tâm, buồn vui cũng từ tâm, ghanh ghét cũng từ tâm, hỷ nổ ái ố cũng từ tâm, chạy theo danh lợi, phù phiếm cũng do tâm. Trong cuộc sống giữa những biến động: được, mất, còn, hơn thua, lời khen, tiếng chê, buồn, vui, ganh ghét, nhỏ nhen, ích kỷ tất cả điều do tâm tham mà ra. Chẳng hạn, trong một kiếp sống nhân sinh, chúng ta sẽ trải qua những biến cố của cuộc đời, có những bài học làm ta nhớ mãi, cũng có những vết thương sẽ được chữa lành. Ai trong chúng ta cũng từng trải qua cái gọi là “Bị tổn thương”. Tổn thương do sự cho đi không được nhận lại. Sở dĩ ta tổn thương là vì trong cái cho của ta có sự mong cầu. Mà mong cầu đó là tham. Ta “sợ” không ai nhớ đến ta rồi tự mình đau khổ, nếu giây phút ta bình tĩnh, nhìn nhận để thấy được trong sự cho đi của ta có mong cầu là ta đang “quán”, sự tĩnh lặng là “thiền”, thấy được sự việc đau khổ trên do tâm tham tạo ra là ta đang “quán tâm”. Khi thấy được bản chất thật sự của tâm, nguyên nhân nguồn cội của sự việc là do đâu thì những đau buồn, ganh ghét, buồn bực sẽ bay theo cơn chỉ còn lại niềm vui của người và hạnh phúc của ta.Trong chúng ta chắc chắn một điều ai cũng sẽ có tâm tham tiền, tham tài, tham danh vọng nhưng quan trọng là ít hay nhiều. Chúng ta chạy theo, đắm nhiễm, bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa tàn nhẫn chỉ cần đạt được để rồi đánh mất hạnh phúc. Nếu ta thấy được điều đó là tham thì đó là đang “quán tâm”. Lúc này, quyết định đưa ra phương án “buông bỏ” để tìm lại lý tưởng, hạnh phúc thật sự nhưng chúng ta “buông” liệu có thật sự “bỏ”? Còn sợ, còn mong cầu là còn tham. Có những điều rất vi tế mà chúng ta không thấy, nhưng khi ngồi “thiền” một cách thật tĩnh lặng, rồi suy nghĩ về vấn đề thì chúng ta phát hiện mình vẫn còn tham. Chẳng hạn, bạn là một người cực kì khao khát điểm số và cho rằng điều đó thể hiện bạn là người “giỏi”. Bạn bất chấp tất cả những xấu xa để đạt được. Một ngày, bạn nhận ra nó là tham, làm bạn đau khổ. Bạn thấy được rồi tuyên bố với mọi người “Tôi đã buông bỏ được” Nhưng khi cô gọi bạn lên trả bài, kiểm tra hay phát bảng điểm bạn lại sợ. Tại sao bạn sợ, điều gì làm bạn sợ? Có phải bạn còn tham, mong cầu điểm, hay gì đó nên bạn sợ? Cuối cùng mình lại đi vào con đường cũ mà không hay biết, vô tình rơi vào vòng xoáy khổ vị. Cuộc đời chúng ta vô vàn chữ “lầm”: thương lầm, ghét lầm, buông lầm. Tất cả chữ lầm hiện hữu là do ta chưa thật sự nhìn nhận nó một cách đúng đắn, vì nó quá vi tế. Nhưng ngồi thiền quán chiếu lâu ta mới có thể thấy. Ta nói buông bỏ nhưng thật chất ta chỉ để đó rồi một ngày sẽ cầm nắm lên lại. Ta ăn món đó nhiều nhất khi ta thèm, đó là tham. Ăn xong rồi ta nói: “Mai mốt tôi không bao giờ ăn nữa!”. Khi nào ta nói câu đó? Khi ta đã ăn xong món đó rồi. Nhìn thấy được sự tham của mình là do đâu thì đó là “Quán tâm tham”. Tâm sân giống như một trạng thái tâm lý nơi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và không bị ảnh hưởng bởi biến động xung quanh. Tuy nhiên, trong trường hợp chúng ta giận dữ và nói rằng: “tôi không giận”, điều này có thể không phải là quán tâm vô thường đích thực. Cũng giống như câu: “U mê mà không biết mình u mê là người thật sự rất u mê”. Thay vào đó giữ im lặng về cảm xúc của mình, quan trọng hơn là bạn có thể chấp nhận và hiểu rõ nguyên nhân của sự giận dữ và cách nó ảnh hưởng đến bạn và người khác rồi chấm dứt nó thì đó lá nhìn sự vô thường của tâm sân hận. Nhìn tâm không phải là việc giả vờ hoặc phủ nhận cảm xúc của chúng ta, mà là khả năng nhìn nhận và chấp nhận cảm xúc đó mà không bị vấp ngã hoặc bị nuốt trôi bởi chúng. Điều quan trọng là bạn có thể tìm hiểu tại sao bạn cảm thấy giận dữ, có thể thảo luận một cách xây dựng với người thày/người tham vấn, và tìm cách giải quyết xung đột một cách ít gây tổn thương hơn. Hay khi có những mối quan hệ nghịch lòng nhau. Ta nghĩ ta đã hết giận, buông bỏ, nhưng khi ta ngồi thiền tĩnh lặng, ta phát hiện ta suy nghĩ mãi về vấn đề đó nghĩa là ta chưa buông được cái giận nên ta còn nghĩ về nó, nếu không giận ta sẽ không nghĩ về nó vì không có vấn đề nào ở đây. Hoặc khi đi hành thiền, chân không mang dép ta sẽ cảm nhận viên sỏi một cách rõ ràng nhất, nếu ta khởi lên tâm ghét nó vì làm ta đau đó là ta đang sân một biểu hiện của tâm sân. Đôi khi ta hay nói với mọi người rằng: “Tôi rất thương mọi người dù mọi người làm gì tôi cũng không tức giận!”. Vậy liệu có thật sự thương, phải chăng quán tâm sân là như vậy? Chẳng hạn, một con muỗi cắn ta, ta cảm thấy đau đớn ta sân giận đập chết nó? Một con muỗi nhỏ bé "động chạm" ta, ta không thương nổi, sao một con người đầy mưu mô ta có thương được! Không đó chỉ là lời hứa, lời nói suông của ta, nó không thật. Cũng vậy! Tâm người không bao giờ chắc chắn một phút giây nào. Nó thay đổi trong mỗi sát na. Không phải khi ta ngồi bất động mới thấy được sự thật mà khi hành thiền quen dần ta áp dụng nó ở mọi nơi, mọi lúc, mỗi giây, mỗi phút thiết lập cho ta chánh niệm hiện tiền nghĩa là sự tập trung ở hiện tại nó sẽ trở thói quen. Khi gặp chuyện thì ta sẽ biết nó là tâm gì. Do đó, mà khi ta khởi cái tâm giận ta biết ta giận, khởi tâm tham ta biết ta tham, khởi tâm si ta biết ta si. Thấy vô thường, tính thật giả của tâm rồi từ từ đoạn trừ nó. Không có sự khó chỉ sợ ta không nhận biết nó là tâm gì rồi mê muội, bám chấp để ngày qua tháng lại mưa dầm thắm sương, ta đau khổ. Nhưng điều này còn phụ thuộc vào từng khoảng thời gian ta hành thiền dài hay ngắn. Thời gian ban đầu ta không biết tâm ta thật sự ở đâu nhưng khi ngồi khoảng thời gian dài và áp dụng vào cuộc sống tâm ta ở trong thực tại. Một con người tâm như thế nào thì cuộc sống của người đó. Tâm đẹp cuộc sống đẹp. Giống như việc chế trà với một cái tâm thực tại an nhiên không có tham, sân, si thì sẽ luôn ở phút giây hiện tại và khi cầm rót trà sẽ không có sự hấp tấp, từ tốn nhẹ nhàng không có một giọt trà rơi ra. Chén trà rót một lượng vừa đủ, khi bưng trà tâm vẫn chánh niệm cảm nhận hương thơm, vị đắng, ngọt một cách rõ ràng nhất thì người đó tâm đang ở thực tại. Thực tập quán chiếu vô thường trong cuộc sống hàng ngày là một cách để chúng ta nhìn nhận và chấp nhận sự vô thường của mọi hiện tượng trong cuộc sống. Vô thường có nghĩa là mọi thứ đều thay đổi và không cố định. Bằng cách nhìn nhận sự vô thường, chúng ta không bị mắc kẹt trong sự gắn bó hoặc đau khổ với những thay đổi. Thực tập quán tâm vô thường giúp chúng ta giải phóng khỏi sự gắn bó và đau khổ, và mang đến sự tự do và bình an trong tâm hồn. Tác giả: TN Thánh Hòa
Biên tập: QH Mỗi chúng ta khi được sanh ra ai rồi cũng sẽ trải qua những lúc thăng trầm của cuộc đời. Đối với người thế gian thì dù sống tại bất cứ hoàn cảnh, môi trường nào, vật chất đủ đầy hay thiếu thốn thì ai cũng đã từng thốt lên rằng “Sao tôi khổ thế này?”. Ngay cả khi chúng ta may mắn được sống trong môi trường tốt, được gần gũi thầy lành bạn tốt song đời sống tập thể cũng sẽ không sao tránh khỏi có nhiều vấn đề phát sinh tác động lên chúng ta trên cả hai phương diện là thân và tâm. Vậy làm sao chúng ta có thể tiếp nhận và chuyển hóa những điều xảy đến với chúng ta một cách hiệu quả nhất? Câu trả lời là áp dụng công phu tu tập dựa trên giáo lý của Đức Phật, đặc biệt phương pháp thiền Tứ Niệm Xứ được xem như một phương pháp thực tập gắn liền với đời sống công phu tu tập hằng ngày của chúng ta. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày chúng ta sẽ luân phiên trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau đem lại. Như khi vui mừng đó rồi lại có cảm giác bất an, lo âu, chán nản, giận hờn. Đây là các trạng thái cảm xúc, thuộc về hành uẩn. Bàn về thọ uẩn, chúng thường khá vi tế và cần sự chú tâm quan sát để khổ thọ không đưa đến bất thiện nghiệp nơi thân hành và ý hành. Cảm thọ chính là những cảm giác của mình khởi lên khi sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp làm cho tâm thức chúng ta sinh ra cảm giác như vui vẻ (lạc thọ), buồn khổ (khổ thọ) hay không vui không buồn (bất khổ bất lạc thọ). Như khi ta bệnh có thể có những cảm giác mệt mỏi hoặc khó chịu như vậy cảm giác có nguồn gốc từ thân hoặc khi ta thương yêu một người cảm giác hân hoan vui vẻ đó là cảm giác từ tâm. Khi mới hành thiền chúng ta rất dễ bị những cảm giác cá nhân chi phối như tê chân, đau lưng, mệt mỏi hay ngứa ngáy nơi thân, từ đó chúng ta rất khó chịu vì những cảm giác đó đem lại, đó chính là khổ thọ. Khi ta chưa có được chánh niệm vững vàng nếu khổ thọ xuất hiện thì ta lập tức nhận diện sau đó phản ứng lại bằng cách xua đuổi, diệt trừ nó, ví dụ như khi tê chân ta muốn đổi tư thế ngồi hay duỗi thẳng chân cho dễ chịu, hay đau lưng, đau vai ta muốn vươn vai ra cho thoải mái hay đi lại một chút cho “giãn gân cốt” rồi mới ngồi thiền tiếp. Khi đó phiền não nổi dậy và thúc đẩy chúng ta muốn làm thế này thế kia đồng nghĩa với việc chúng ta có thể đang mất chánh niệm, quên không quan sát trên các đề mục thì sẽ nhường chỗ cho các tâm ý như tham, sân, si dấy khởi. Tất cả những cảm thọ nặng nề, khó chịu, ngứa ngáy hay cảm giác như con gì bò trong cơ thể sẽ làm chúng ta lo lắng, khó chịu. Nếu khi ấy chúng ta cố gắng thực hành và không phản ứng lại những cảm giác khó chịu đó, thì những cảm giác này sẽ dần biến mất và sẽ không còn gây khó khăn trong quá trình hành thiền. Sở dĩ ta lo lắng, khó chịu vì chính ta không nhìn thấy thọ khổ chỉ là một đề mục khi hành thiền chúng ta biết rằng cơn đau rồi sẽ qua thôi. Vậy nên, khi có thể chấp nhận những cơn đau như một phần của cuộc sống, chúng ta dần học cách không còn muốn xua đuổi hay diệt trừ những cơn đau đó nữa, phiền não cũng theo đó mà bị đẩy lùi. Rồi một thời gian, khi chúng ta đã có kinh nghiệm thiền tập, thực hành đúng phương pháp, hơi thở ra hơi thở vô được điều hòa không còn cảm giác tê chân hay ngứa ngáy gì nữa thì chúng ta sẽ nhận diện được những cảm giác an lạc, hoan hỉ khi hành thiền, đó chính là lạc thọ. Những cảm giác thoái mái nơi thân và tâm khiến cho chúng ta muốn hành thiền thật nhiều để có được cảm giác đó và khi đó tâm tham muốn đang dẫn dắt chúng ta tìm kiếm những cảm giác thoải mái và muốn đắm chìm trong chúng; hay khi chúng ta không tìm kiếm được cảm giác thoải mái đó chúng ta còn khó chịu hơn việc đang bị thọ khổ chi phối. Một khi chúng ta nắm được phương pháp hành thiền, quan sát đúng đối tượng thì những cảm giác dễ chịu sẽ dễ làm cho chúng ta chìm đắm trong lạc thọ thì đâu đó chúng ta sẽ dễ quên mất việc quan trọng của hành thiền là phải quan sát đề mục khi hành thiền. Thọ lạc rất nguy hiểm vì nó làm chúng ta dễ bị đánh lừa cảm giác khi thực hành. Vì lẽ đó, chúng ta phải có chánh niệm trong sáng, chánh định kiên cố thì lúc đó ta mới có trí tuệ đúng đắn để không dính mắc, không còn tham muốn nắm giữ cảm giác thọ lạc đó nữa. Việc kiên định thực hành như vậy sẽ giúp chúng ta giữ vững lòng tin và không bị lầm đường lạc lối. Tác giả: TN Phương Quang
Biên tập: QH Trong Kinh Pháp cú kệ 3, Đức Phật đã dạy: Tâm hoảng hốt dao động Quán tâm là sự tập trung nhận diện và làm việc với các tình huống khác nhau của tâm. Kinh niệm xứ (MN 10) cũng nói rõ, khi quán tâm, chúng ta sẽ biết rõ liệu tâm của mình có tham lam hay không. Khi tập trung nhìn vào tâm, chúng ta sẽ tường tận thấy hết các diễn biến khác nhau của nó. Đặc biệt, đối với những người mới bắt đầu làm quen với thiền quán, sẽ không tránh khỏi sự vọng tưởng của tâm. Chính bản thân tôi cũng từng trải qua những trạng thái như vậy, những vọng tưởng liên tục nối tiếp nhau, khiến cho tâm không được yên. Trong những tình huống như vậy, tôi đã học cách chế ngự bằng cách hít thở thật sâu, bước đầu đếm hơi thở từ 1 đến 10 và ngược lại để xua tan những vọng tưởng đó trong đầu. Về tâm, Đức Phật đã giảng rằng có tổng cộng 16 loại tâm có thể lấy làm đề mục thực hành quán tâm, bao gồm:
Nhờ sự nhìn tâm như vậy, khi chúng ta có tâm tham khởi, sẽ biết khi nào ta đang tham; hay khi nào thấy ta đang sân nếu thực hành chánh niệm ngay ở thời khắc tâm sân sinh khởi. Trong cuộc sống hàng ngày, làm thế nào để tránh khỏi những điều không vừa ý? Nhiều khi sẽ có những chuyện khiến chúng ta bực dọc khó chịu. Người đời có cái khó khăn của họ, còn người tu sĩ chúng ta lại có những cái khó khăn của người tu sĩ. Đã sinh ra làm một con người, ai cũng sẽ có những vấn đề, thử thách khó khăn cả. Việc thực hành thiền cũng vậy, rất cần có thời gian để tự mình trải nghiệm. Thiền không phải một hình thức chỉ để chúng ta nói suông, nó là một quá trình dài, cần sự kham nhẫn của cá nhân đó. Là một hành giả mới bắt đầu tìm hiểu về thiền, cần biết rằng Thiền được chia ra rất nhiều nhánh, tuy nhiên ở đây tôi chỉ nói đến một khía cạnh của việc thực hành quán tâm như trong Kinh Tứ Niệm Xứ mà thôi. Chính vì bản thân có duyên lành được trải nghiệm cùng đại chúng trong chuyến đi về Trung tâm thiền Vipassana của thầy Hiệu trưởng, mà với tôi đó là một ngày tu trải nghiệm thật đáng nhớ. Nó ấn tượng bởi vì, đây là lần đầu tiên bản thân tôi được kinh nghiệm một thời khóa như các hành giả chuyên tu. Tuy đã được thông báo trước đó là hai tuần, nhưng trong lòng tôi thấy nôn nao vô cùng. Bản thân luôn ở trạng thái nghi ngờ cho chính mình, bao nhiêu câu hỏi luôn khởi trong đầu, liệu trong chuyến đi này, mình có thu hoạch được gì hay không, nhiều câu hỏi đặt ra rồi lại trăn trở xen lẫn là sự sợ hãi. Sở dĩ lo lắng như vậy vì bản thân tôi trước giờ ít khi thực hành thiền, lại chưa có kinh nghiệm thực hành thiền nhiều. Có chăng nữa là thi thoảng tôi có đi kinh hành, vì bản thân tôi hay thường xuyên bị áp lực, không biết chia sẻ, tâm sự cùng ai. Những lúc như vậy tôi thường đi kinh hành, cốt để thả lỏng tâm mình, những lần đó khiến tâm tôi rất bình yên. Việc đó cứ âm thầm lặp đi lặp lại khiến cho tôi cũng trở nên thuần thục và cảm thấy thích thú với nó, xem nó như một cách giải tỏa áp lực. Rồi ngày ấy cũng đã đến, ngay từ sáng sớm khoảng 6h, hai chiếc xe đã chờ đợi chúng tôi ở đúng địa điểm. Đại chúng này, tức là tập thể ni sinh khóa IX của chúng tôi, sẵn sàng bắt đầu hành trình dài hơn 25km từ nội thành Mỹ Tho đến huyện Châu Thành, Tiền Giang. Cuối cùng, chúng tôi đã đặt chân đến Trung tâm thiền của thầy. Điều đầu tiên khiến tôi say mê là sự yên bình nơi đây. Lối vào trung tâm được bao bọc bởi những hàng dừa xanh mát, không khí phải nói hết sức trong lành. Dọc hai bên lối đi, tôi chỉ cảm nhận một màu xanh của cây lá, tạo nên một khung cảnh đậm chất thiền nơi vùng thôn giã. Sau một lúc được nghỉ ngơi, sư cô giáo thọ đến và bắt đầu hướng dẫn chúng tôi vào bên trong chánh điện để ngồi thiền. Ngồi yên lặng như thế tầm khoảng 30 phút gì đó rồi chúng tôi được nghỉ giải lao, bắt đầu công cuộc đi kinh hành xung quanh Trung tâm thiền. Trước tiên, sư giáo thọ cho cả lớp ni chúng tôi xếp thành các hàng đối xứng nhau. Tuy nhiên, chúng tôi đều được nhắc nhở: "Tất cả mọi người phải tịnh khẩu trong lúc đi hành thiền, không ai được nói đến ai, hay ai được nhìn ai, mà phải tập trung tự mình trải nghiệm." Điều này thật sự tuyệt vời, vì sư giáo thọ mong muốn chúng tôi hiểu rõ hơn về lợi ích của việc hành thiền. Sau đó, chúng tôi bắt đầu những bước đi đầu tiên, đi chậm rãi với sự hướng dẫn của sư giáo thọ. Cả đại chúng theo đều theo nhịp bước đi trong khuôn viên Trung tâm, từng bước kinh nghiệm cuộc hành trình trên những đoạn đường không quá dài, nhưng vừa đủ để tâm trí tôi bắt đầu thấm nhịp. Ban đầu, tôi còn tò mò với cảnh đẹp xung quanh và đôi ba lần liếc mắt để nhìn xem. Sau khi sư giáo thọ nhắc nhở, tôi bỗng nhận ra và quay lại việc thực hành chú tâm. Khi những bước chân quen dần, một cảm nhận bình an chợt xuất hiện trong tâm và tôi bắt đầu nhận thức sâu sắc rằng hình như tôi chưa bao giờ thực sự sống cho chính mình. Những suy nghĩ trong đầu tôi xoay quanh một câu hỏi lớn: "Mình đang theo đuổi điều gì suốt thời gian qua?" Đó là câu hỏi quẩn quanh tâm trí tôi xuyên suốt buổi kinh hành. Những thắc mắc này khiến tôi hi vọng rằng mọi nghi ngờ trong tâm sẽ được giải đáp. Sau một thời gian kinh hành, tiếng chuông từ xa báo hiệu chúng tôi tập trung về chánh điện để bắt đầu giờ tọa thiền. Trong thinh lặng, mọi người tự tìm về chỗ ngồi của mình. Tôi chọn một vị trí gần sư giáo thọ, có lẽ do tin rằng từ trường ấy có thể giúp tôi ngồi yên. Đúng là một suy nghĩ khá con nít, vì khi bắt đầu ngồi xuống, tôi lại gặp khó khăn với đôi chân của mình bởi hậu biến chứng từ một chấn thương vỡ khớp gối do té xe năm học lớp 8. Cuối cùng tôi quyết định ngồi tư thế bán già cho đỡ đau chân. Lúc đầu, tôi cảm thấy thật khó khăn. Ôi thôi! Bao nhiêu vọng tưởng, suy nghĩ này đến suy nghĩ kia nó cứ xuyên suốt nối tiếp nhau khiến cho tôi cảm thấy bất an vô cùng. Tôi cảm thấy tự ti khi mà mình có những động tác nhúc nhích ngọ nguậy, không tài nào mà ngồi yên cho được. Thế rồi tôi chuyển hướng tâm trí đến sư giáo thọ, nhìn thấy hình ảnh người ngồi yên như một tượng Phật, tôi tự nói: "mình nhất định phải ngồi được". Thế là tôi bắt đầu, hít thở lại thật sâu, làm như vậy liên tục khoảng ba bốn lần gì đó rồi. Đây chỉ là cách tạm thời tôi muốn xua tan những suy nghĩ kia trong đầu. Bắt đầu tôi đếm từ 1 đến 10 và ngược lại như thế cho đến khi không bị nhầm, thì tôi không đếm nữa. Đó là cách mà tôi được học từ một sư cô ở Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức, chính sư cô đã dạy cho tôi khi tôi còn là phật tử. Dịp đó, tôi được tham gia cùng các bạn trong chuyến hành hương cúng dường. Khi ngồi một lát, vọng tưởng trong tôi cũng lần vơi bớt. Tôi bắt đầu cảm nhận một trạng thái an lạc hơn, và ngồi thiền lâu hơn so với mong đợi ban đầu. Vì trước giờ tôi chưa bao giờ ngồi lâu như vậy. Thời gian trôi mau, tôi chuyển qua đề mục thiền tâm từ. Tôi tác ý muốn hiểu rõ bản thân và tâm hồn, chúng đang muốn điều gì thế? Đến lúc này, một điều bất ngờ nhất đã xảy ra. Tôi muốn chọn một đối tượng để rải từ tâm, nhưng lại không thể nghĩ ra ai. Thế là tôi chuyển đối tượng thành chính mình. Tôi thử trải lòng với chính bản thân mình. Khi nhìn lại thật sâu thâm tâm tôi, tôi mới thực sự cảm nhận được tại sao hình ảnh của những người đã từng gây tổn thương cho mình lại hiện lên quá chi tiết như vậy. Điều mà tôi nhận ra là bản thân mình trước giờ chưa bao giờ tha thứ cho ai. Khi đó, tôi mới hay rằng suốt thời gian qua, mình đã lừa dối chính bản thân mình. Tâm mình còn sân lắm, còn chấp thủ lắm, và mình thực ra chưa thể buông bỏ chấp niệm. Đây là phát hiện thứ hai tôi nhận ra nơi tâm mình ngay tại giây phút tọa thiền ấy. Bỗng dưng, tôi cảm thấy biết ơn vô cùng. Thầm cảm ơn mọi nhân duyên hôm nay, biết ơn nhất vẫn là Sư cô giáo thọ, người đã tạo nhân duyên cho tôi và các bạn trong lớp, giúp chúng tôi trải nghiệm một ngày tu tập hết sức ý nghĩa. Bên cạnh đó, còn biết ơn thầy Hiệu trưởng đã trợ duyên phương tiện để lớp chúng tôi được thuận lợi và an toàn đến thực hành tại Trung tâm. Thương lắm những quý cô phật tử đã dành một ngày ân cần chăm sóc vật thực cho tôi và toàn thể đại chúng. Những món ăn được bày biện rất đầy đủ, chu đáo. Sau khi thọ thực xong, chúng tôi được nghỉ trưa. Đầu giờ chiều, khoảng 13h30p, chúng tôi tập trung để tiếp tục ngồi thiền, kinh hành, và nhiều hoạt động khác. Tất cả lặp lại giống như buổi sáng. Khoảng 16h, lớp chúng tôi được nghe bài pháp của thầy Hiệu trưởng và Pháp đàm cùng sư cô giáo thọ. Thầy và cô đã tận tình chia sẻ những kiến thức mà thầy cô kinh nghiệm được cho chúng tôi nghe. Những kiến thức mà chúng tôi chưa biết, hay những thắc mắc trong việc tọa thiền, chúng tôi đều được thầy và sư giáo thọ giải thích tận tình. Sau thời pháp đàm, cứ ngỡ là sẽ được về, nhưng Thầy và quý Phật tử lại tiếp tục thiết đãi chúng tôi bữa ăn nhẹ buổi chiều trước khi lên xe trở về. Suốt quãng đường về, trên khuôn mặt chúng tôi, ai nấy cũng nở nụ cười an lạc sau chuyến đi đó. Một ngày tu trải nghiệm của tôi đã đi qua như thế đó - một kỷ niệm khó quên. Mục đích của quán tâm trên tâm là nhằm thấy rõ tính duyên sanh, vô thường, vô ngã của các pháp hữu vi. Nó biểu hiện trong mọi tâm thức, chúng chỉ là các hiện tượng chuyển biến sanh diệt, không phải là thường hằng, thường trụ, có thực, đáng được xem hoặc đồng hóa là 'tâm tôi', là 'suy nghĩ của tôi'. Đức Phật cũng từng dạy rằng: 'Một khi chỉ một thoáng tâm sân hận khởi lên mà chúng ta không kiềm chế khắc phục được, thì lập tức muôn ngàn đau khổ tiếp nối theo sau'. Chúng ta cũng thường hay cho rằng thân và tâm thì rất quan trọng, nhưng ngược lại đối với Đức Phật thì lại khác. Ngài cho rằng: 'Nghiệp và ý thì mới quan trọng, khi ý suy nghĩ, miệng nói năng thì thân mới hành động'. Cho nên, Đức Phật nói “Ý dẫn đầu các pháp, chính tâm ý tạo tác nên duyên hành mà khiến cho chúng sanh tạo nghiệp sai khác.” Nếu muốn chế ngự tâm ý, trước hết chúng ta cần thực hành chánh niệm để quán chiếu những vọng động nơi tâm, làm lắng xuống những vọng động kia và khi đủ duyên cần dứt trừ các phiền não, lậu hoặc. Nhờ đó, tâm sẽ được an nhiên tự tại. Cùng với các Ba-la-mật vun bồi, sự nỗ lực công phu tu tập tới một lúc nào đó sẽ thánh nhập đạo-quả Vô thượng bồ đề, tức Niết bàn vị lai. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Tác giả: TN Tuệ Quang
Biên tập và hiệu đính: QH. Trong thế giới đầy căng thẳng ngày nay, sức khỏe tâm thần đã trở thành một vấn đề cấp bách. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, cứ 1 trong 7 thanh thiếu niên toàn cầu đang mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần, trong khi hàng năm có 700.000 người trong độ tuổi từ 15 đến 29 tử vong vì tự tử, khiến tự tử trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đứng thứ 4 trong nhóm tuổi này (WHO, 2022[1]). Gánh nặng của bệnh tâm thần trải rộng qua một loạt các rối loạn, bao gồm rối loạn tâm thần lưỡng cực, lo âu, sử dụng chất gây nghiện, rối loạn hành vi và phát triển, tâm thần phân liệt và khuyết tật trí tuệ (AIHW, 2011[2]). Đối mặt với cuộc khủng hoảng sức khỏe ngày càng tăng này, đã có một sự quan tâm mới đến các tiếp cận dựa trên Chánh niệm trong những thập kỷ qua, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Một trong những người tiên phong trong việc tích hợp Chánh niệm vào các trị liệu lâm sàng là Jon Kabat-Zinn, người đã xây dựng chương trình 'Giảm thiểu căng thẳng dựa trên Chánh niệm' (MBSR) vào năm 1979, với trọng tâm là thực hành thiền chánh niệm và thiền tâm từ (Kabat-Zinn, 2003[3]). Công việc của Kabat-Zinn đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đưa sự thực hành phương Đông mang ảnh hưởng của tôn giáo vào các đối tượng thử nghiệm lâm sàng và tâm lý trị liệu phương Tây, mở ra cánh cửa mới cho cách thức chữa lành và tự phục hồi. Thiền Chánh niệm, có nguồn gốc từ sự thực hành cổ xưa của đạo Phật từ cách đây 2.600 năm, được hiểu rõ bởi những hành giả thực hành vipassanā tức tu tập thiền quán. Thuật ngữ "thiền Phật giáo" liên quan chặt chẽ đến mục đích cuối cùng là Niết bàn (Sanskrit: निर्वाण, nirvāṇa; Pali: nibbāna), đại diện cho sự tự do tuyệt đối khỏi mọi ngọn nguồn khổ đau thông qua sự thực hành truyền thống được mô tả chi tiết trong bản kinh nổi tiếng the Satipatṭhāna sutta - Bốn nền tảng thiết lập Chánh niệm trong tạng Kinh cổ ngữ Pali (Pāli Nikāya[4]). Do vậy, trọng tâm của các can thiệp trên nền tảng Chánh niệm[5] đương đại nằm ở sức mạnh của việc trau dồi sự hay biết và hiện diện trong khoảnh khắc hiện tại. Chánh niệm không chỉ liên quan tới việc chú tâm đến các suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta, mà còn hòa nhịp lắng nghe các cảm giác thể chất, hơi thở và môi trường xung quanh. Chánh niệm khuyến khích chúng ta thiết lập sự kết nối sâu sắc với bản thân, với mọi người và với thế giới xung quanh, nuôi dưỡng cảm giác kết nối tương hỗ và lòng trắc ẩn. Đó là sự trải nghiệm và ghi nhận khoảnh khắc hiện tại một cách trọn vẹn, thay vì bị lạc dòng tư tưởng bởi những lo lắng về quá khứ hoặc tương lai. Một trong những khía cạnh độc đáo của các can thiệp chánh niệm là hướng tiếp cận toàn diện trong trị liệu, bao gồm tâm trí, thân thể và tinh thần. Chánh niệm mời gọi chúng ta phát triển một mối quan hệ đầy cảm thông với chính mình và thế giới xung quanh, để sống đúng mục đích và thiện ý. Thông qua việc thực hành thường xuyên liên tục, hành giả thấy được sự tiến bộ về nhận thức bản thân và kiểm soát cảm xúc tốt hơn, giảm thiểu căng thẳng, cải thiện chức năng nhận thức, cải thiện mối quan hệ, nuôi dưỡng khả năng tự phục hồi và sự bình an nội tâm. Theo đó, các thử nghiệm với can thiệp chánh niệm đã được chứng minh là có tác động sâu sắc đến sức khỏe tâm lý và hạnh phúc thân-tâm mà không yêu cầu chẩn đoán cụ thể về trạng thái tâm thần. Hơn nữa, các can thiệp dựa trên chánh niệm hiện nay, gọi tắt là liệu pháp chánh niệm hay can thiệp chánh niệm, đã được ứng dụng hiệu quả trong việc điều trị khá nhiều các biến chứng tâm thần, bao gồm lo âu, trầm cảm, mất ngủ, rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), nghiện và rối loạn ăn uống. Với những phiền muộn và căng thẳng không ngừng trong nhịp sống hiện đại ngày nay, những khoảnh khắc an yên dần trở nên quý hiếm và trở thành một xu thế tìm kiếm. Chúng ta thường thấy bản thân lạc lối trong sự hỗn loạn của dòng suy tư, lo lắng và trách nhiệm; quên đi việc sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện tại. Tuy nhiên, giữa bối cảnh hỗn loạn đó tồn tại một phương thức giản đơn nhưng vô cùng mạnh mẽ, có thể mang chúng ta trở lại khám phá chân lý cuộc sống - đó là thực hành Chánh niệm. [1] World Health Organization 2022, Mental health, World Health Organization, online webpage, viewed 2 April 2023, https://www.who.int/features/factfiles/mental_health/en/
[2] AIHW 2011, Impact and causes of illness and death in Australia 2011, Australian Burden of Disease Study series, Number 3 [3] Kabat-Zinn, J. (2003). Mindfulness-based stress reduction (MBSR). Constructivism in the Human Sciences, 8(2), 73–107. [4] Bản kinh gốc Pāli này có một vài dị bản tương ưng có thể tìm tham khảo trong bộ A-hàm Hán tạng như MA 98, MA 31, v.v. [5] mindfulness-based interventions (MBIs) Quý vị thân mến! Trong những bài viết trước, chúng tôi đã cố gắng nêu ra những kiến thức mang tính học thuật về các Liệu pháp Thiền hay Tâm lý trị liệu, nhấn mạnh vào nền tảng Thiền Phật giáo (gọi tắt là Thiền Trị liệu) trong việc ứng dụng một liệu pháp tâm lý cho các tổn thương tinh thần và cảm xúc cá nhân giữa những khủng hoảng toàn cầu thời đương đại. Trong bài viết này, người thực hiện giao lưu cùng ChatGPT - một AI chatbox mới xuất hiện gần đây và vô cùng thú vị. Câu hỏi đưa ra bằng tiếng Việt, liên quan đến Liệu pháp Thiền Chánh niệm, cũng như việc nên hay không nên thực tập liệu pháp này cho từng đối tượng(*). Dưới đây là góc nhìn thuần túy của ChatGPT dựa trên những kho dữ liệu online khổng lồ. Một lần nữa, người thực hiện khuyến khích bạn đọc tham khảo, nhưng cũng cần thêm khảo nghiệm và đánh giá chuyên gia trước khi hoàn toàn đặt sự tin cậy vào nguồn dữ liệu thông minh này. Mến chúc bạn đọc có những phút giây nghiền ngẫm hữu ích! Chat GPT: Có nhiều trường hợp mà việc tham vấn tâm lý có thể hữu ích, bao gồm:
Phương pháp thiền và các liệu pháp tâm lý khác có nhiều điểm tương đồng như chú trọng đến tâm trí và cảm xúc, và đều được sử dụng để giải quyết các vấn đề tâm lý. Tuy nhiên, có những khác biệt chính giữa phương pháp thiền và các liệu pháp tâm lý khác như sau:
Mặc dù liệu pháp thiền có nhiều lợi ích cho tâm trí và cơ thể, nhưng không phải ai cũng phù hợp để thực hiện nó. Dưới đây là một số trường hợp khi không nên áp dụng liệu pháp thiền:
Liệu pháp chánh niệm là một phương pháp thiền tập trung vào việc giữ cho suy nghĩ của bạn luôn tập trung vào hiện tại và không bị lạc đề. Dưới đây là một số trường hợp khi không nên áp dụng liệu pháp chánh niệm:
ChatGPT: Bạn có thể gọi tôi là ChatGPT nhé. Người thực hiện: Quang Hằng (*) Nội dung trả lời của ChatGPT có hiệu đính nhẹ để giúp thông tin đưa tới bạn đọc tốt hơn. Theo khảo cứu sơ bộ, các dữ liệu được trích dẫn bởi báo địa phương và UNICEF Việt Nam đóng vai trò như một lời cảnh tỉnh cho chính phủ và xã hội Việt Nam nói chung để ưu tiên và đầu tư vào các nguồn lực và hệ thống hỗ trợ về sức khỏe tinh thần. Bài báo gần đây được đăng tải online trên một tờ báo địa phương tại Việt Nam đã đưa ra những lo ngại nghiêm trọng về tình trạng sức khỏe tâm thần trong nước. Những con số được thu thập từ Khoa Tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai đã cho thấy rằng khoảng 30% dân số Việt Nam[1] đã từng trải qua ít nhất một rối loạn tâm thần trong suốt cuộc đời của họ. Càng đáng lo ngại hơn, một nửa số người bị ảnh hưởng đã tìm kiếm những phương thức trị liệu cho các vấn đề tâm lý (Le, 2022)[2]. Ngoài ra, UNICEF Việt Nam (2018) cũng đã triển khai một nghiên cứu trên diện rộng về sức khỏe tinh thần và tình trạng tâm lý của trẻ em và thanh niên trong nước[3]. Nghiên cứu này cho thấy rằng từ 8% đến 29% dân số trẻ Việt Nam đang gặp phải vấn đề sức khỏe tâm thần. Trước đây trong truyền thống Phật giáo, giới tu sĩ thường được biết đến với lối sống ẩn cư và tu tập như một kỷ luật tôn giáo. Tuy nhiên, thời nay, việc thực hành tu tập trong Phật giáo đã chuyển dịch sang cách tiếp cận sứ mệnh hóa, bao gồm việc nghiên cứu kinh điển, truyền bá các giáo lý Phật giáo và tham gia các hoạt động xã hội (Schedneck, 2021)[4]. Việc sử dụng thiền chánh niệm (mindfulness meditation) như một cách thức giúp giảm bớt khổ đau tinh thần và thúc đẩy sức khỏe tâm lý trong xã hội hiện đại không hoàn toàn giống với Tự do Niết Bàn, nói cách khác là sự tận diệt khổ đau của con người, mà giới tu sĩ Phật giáo đã hành trì xuyên suốt 2,600 năm kể từ khi Đức Phật Gotama chứng ngộ và chỉ dẫn lộ đạo cho hàng cư sĩ và đệ tử. Ngày nay, sự quan tâm đến lợi ích của thiền chánh niệm đã tăng lên đáng kể, cả trong lĩnh vực học thuật và tâm lý lâm sàng trong vài thập kỷ gần đây (Germer et al. 2005; Tirch et al. 2016; Gold & Zahm 2018)[5]. Sự phổ biến của thiền chánh niệm hiện đại đã trở thành một xu hướng gia tăng từ các quốc gia phương Tây về lại phương Đông, đặc biệt là trong bối cảnh các xung đột và khủng hoảng toàn cầu, khi mọi người tìm nhiều cách để vượt qua các bất ổn tinh thần cá nhân và cải thiện hiện trạng tâm lý của mình. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam, thiền chánh niệm đã trở thành một phong trào thế tục được đông đảo cư sĩ ủng hộ. Sự chuyển đổi từ thực hành tôn giáo truyền thống sang các hình thức tu tập chánh niệm thế tục đang là lời giải cho những đòi hỏi phức tạp và nhu cầu đổi thay tất yếu của xã hội hiện đại. Khác với các xã hội truyền thống hoặc cổ xưa, nơi mà sự thực hành văn hóa và tín ngưỡng có thể thường được nhìn nhận mang tính tập thể và tôn giáo, các xã hội hiện đại ngày nay được đặc trưng bởi lối sống vội, những chuẩn mực văn hóa không ngừng thay đổi, những tiến bộ công nghệ AI và sự thể hiện cá nhân đậm nét. Việc chú trọng đặc biệt đến thực hành chánh niệm được minh chứng là một phương thức để mọi cá nhân trong các xã hội đô thị giải quyết những vấn đề tâm lý cũng như hướng đến sự cân bằng, hòa bình và ý nghĩa của cuộc sống. Quang Hằng --- [1] Tới 2023, dân số Việt Nam ước tính khoảng 100 triệu người. Dữ liệu trích xuất 15/02/2023, https://www.worldometers.info/world-population/vietnam-population/ [2] Le Duy, 2022. “We are not paying enough mind to mental illnesses”. Perspectives. VNExpress International. Retrieved on 15 Feb 2023, https://e.vnexpress.net/news/perspectives/we-are-not-paying-enough-mind-to-mental-illnesses-4428398.html [3] Nghiên cứu này thực hiện khảo sát dân số trẻ của đại diện 10 trên 63 tỉnh thành Việt Nam. Dữ liệu trích xuất 16/02/2023, https://www.unicef.org/vietnam/reports/mental-health-and-psychosocial-wellbeing-among-children-and-young-people-viet-nam [4] Dữ liệu trích xuất 15/02/2023 https://doi.org/10.1093/acrefore/9780199340378.013.875 [5] Sách tham khảo GIỮA HAI TRUYỀN THỐNG THIỀN VÀ TRỊ LIỆUCó nhiều sự tương đồng giữa các khía cạnh chữa lành của Đạo Phật và các hoạt động trị liệu của liệu pháp tâm lý. Bốn Chân lý (Tứ Diệu Đế) nền tảng được thuyết giảng bởi Đức Phật có thể song hành với chiến lược điều trị của tâm lý trị liệu. Chân lý đầu tiên về sự khổ đã được xác thực bởi chính bệnh nhân kèm theo các triệu chứng được nhận dạng. Chân lý thứ hai về nguồn gốc của đau khổ là nhiệm vụ của nhà trị liệu – ông phải làm rõ với người bệnh các nguyên nhân, trong đó chứa đựng những tác động nằm sâu kín nơi tâm đưa đến sự khổ. Chân lý thứ ba về sự chấm dứt khổ, thường được thể hiện qua niềm hi vọng của người bệnh. Điều này đã dẫn bệnh nhân đến với việc trị liệu nhưng ở một mức độ khác, trị liệu có thể khiến họ sợ hãi. Nhà trị liệu cũng phải có hi vọng ngay cả khi người bệnh đang trải qua một giai đoạn vô cùng bất lực và thất vọng đi kèm những trạng thái hỗn loạn [biểu lộ] trong giờ trị liệu. Đạo Phật khi được hiểu đúng, là một tôn giáo rất tích cực và đầy hi vọng. Các nhà trị liệu có kinh nghiệm biết rằng chính niềm tin trong công việc họ làm thường đem đến hi vọng để tiếp tục giúp đỡ các thân chủ, thậm chí cả khi thân chủ cảm thấy vô vọng về chính mình. Chân lý thứ tư là con đường thoát khổ; sự thực hành theo Bát Chánh Đạo là liều thuốc chữa lành đến từ Đức Phật. Đối với nhà trị liệu tâm lý, các liệu pháp và kế hoạch điều trị thường phát huy hiệu quả trong sự hợp tác cùng bệnh nhân. Tuy nhiên, việc chúng ta hiểu rõ sự khác và cách biệt giữa hai truyền thống này cũng không kém phần quan trọng. Dù cả hai đều là trái cây, nhưng một thứ là táo và thứ còn lại là cam – mà táo và cam thì không giống nhau. Có những khác biệt thật sự trong tiến trình trị liệu, và kết quả cuối cùng đến với cá nhân cũng khác nhau trên hành trình riêng phù hợp theo truyền thống. Một đệ tử Phật thực hành thiền nghiêm túc biết rằng đây là con đường duy nhất hướng tới Niết Bàn, để chấm dứt khổ đau. Anh ấy sẽ ngày càng tăng trưởng sự hay biết được tinh lọc thông qua mô thức thiền quen thuộc. Anh ấy thực ra đang tu dưỡng lại tâm thức mình và toàn bộ thân-tâm ấy đang được điều chỉnh lại. Trong tâm lý trị liệu, chúng ta chỉ thuần túy nỗ lực thay thế những suy nghĩ, cảm xúc và hành động bằng những lựa chọn khác lành mạnh hơn. Cần thừa nhận đây là một cách tái tạo tâm trí mà chúng ta hi vọng sẽ mang lại kết quả về cách hành xử đẹp hơn, bao gồm việc cải thiện các mối quan hệ liên cá nhân. Trị liệu sẽ chấm dứt khi chúng ta, theo một nghĩa nào đó, có thể viết lại câu chuyện của chính mình. Đúng là khi có thể hiểu ra ý nghĩa của những khởi đầu thời thơ ấu và kể lại câu chuyện đời mình một cách bình thản và rành mạch, chúng ta đã quan tâm tới những thiếu hụt trong quá trình phát triển và xử lý những mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong. Cũng có sự cách biệt rõ rệt giữa hai truyền thống. Con đường của Thiền Phật giáo là một trải nghiệm đơn độc. Đó là một công việc vất vả, đòi hỏi nhiều công phu và chậm rãi hướng về tính không vị kỷ. Còn hành trình trị liệu tâm lý nhấn mạnh mối tương quan trong các liệu pháp tâm lý theo định hướng phân tâm học. Mối quan hệ chuyển di, phản-chuyển di giữa bệnh nhân và nhà trị liệu cần được quan sát và xử lý. Phần lớn các thân chủ đến với trị liệu vì họ có một cảm nhận về thực thể nhân cách nghèo nàn hoặc mong manh. Trải nghiệm các liệu pháp tâm lý giúp họ phát triển một cảm nhận về bản ngã mạnh mẽ và có tính cố kết hơn. Cảm nhận về nhân cách này được giả định (phải) hiện hữu ở các vị Thiền sư Phật giáo trong quá trình dẫn dắt đệ tử trên hành trình thiền tập. Vì vậy, không hề ngạc nhiên rằng nếu không có sự kiểm tra kỹ đối với các ứng viên, thỉnh thoảng sẽ có một vài cá nhân suy sụp đến mức hoảng loạn tinh thần khi chính tiến trình thiền làm trỗi dậy cảm nhận mong manh về bản ngã, làm cá nhân mất đi khả năng chống chịu [các tổn thương][1]. (tiếp phần sau) Nguyên tác Tiếng Anh: Dr. Eng-Kong Tan (2006) Nhóm dịch giả Thiền Trị Liệu (2022) [1] Đây là một trải nghiệm nhạy cảm cần đến một vị cố vấn Thiền sư đặc biệt có kinh nghiệm. Nếu ứng viên đang có những vẫn đề tâm lý nặng, sự hỗ trợ của một nhà trị liệu có thể rất kịp thời để tránh những hệ lụy không mong muốn. Trường hợp khác, bằng kinh nghiệm cố vấn, thiền sư có thể nhận ra hành giả đang ở tầng tuệ quán ghi nhận sự chán nản, sự nguy hiểm, sự yểm li với cuộc sống và thân mạng; theo đó đưa ra những lời khuyên đặc hữu phù hợp để hành giả duy trì nỗ lực, tinh tấn trong thực hành. Lịch sử Thiền Trị LiệuTrong vài thập kỷ qua, đã có một sự quan tâm trở lại đối với việc kết hợp Đạo Phật – một truyền thống phương Đông hơn 2,500 tuổi – với các phương pháp trị liệu tâm lý phương Tây đã tồn tại khoảng gần một thế kỷ. Bài viết này sẽ mô tả một tổng quan về lịch sử của các ấn bản đã được công bố có nội dung xen phủ Thiền (trong Đạo Phật) với Trị Liệu kể từ những năm 1960s. Vào cuối thập niên 50, một cuộc hội thảo về trường phái Zen (Thiền) trong Đạo Phật và Phân tâm học trong Tâm lý đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Trường Y khoa Tự trị Mexico. Tham gia hội thảo có khoảng 50 chuyên gia tâm thần học và [nhà] tâm lý học từ cả Mexico và Mỹ. Có nhiều tài liệu đã được trình bày tại hội nghị, và vào năm 1986, Erich Fromm đã xuất bản cuốn sách của ông có tựa là “Phân tích tâm lý và Thiền Phật giáo”[1]. Cuốn sách chủ yếu gồm những tư tưởng của ông sau các cuộc thảo luận phong phú xuyên suốt cuộc hội thảo với bậc thầy của trường phái Zen D.T. Suzuki. Trong chương cuối cùng, ông đã đưa ra những điểm tương đồng trong cuộc hành trình phân tâm “giải tỏa sự dồn nén” và hành trình tâm linh kiếm tìm sự giác ngộ của Đạo Phật. Tương tự, Alan Watts trong cuốn sách thường được trích dẫn của ông – cuốn “Liệu pháp tâm lý Đông và Tây”, đã nhấn mạnh một nền tảng chung giữa lĩnh vực tâm thần học phương Tây và các triết lý phương Đông. Ông đã kết luận rằng theo những cách và với những mức độ khác nhau, các triết lý phương Đông, đặc biệt là Đạo Phật, và liệu pháp tâm lý phương Tây đều đưa cá nhân tham gia những thử nghiệm mà qua đó ảo tưởng về một bản ngã tách biệt được phơi bày. Cả hai truyền thống này theo đó có thể cho cá nhân thực nghiệm một cảm nhận về thực thể nhân cách lành mạnh hơn. Năm 1988, cuốn “Tâm thức thiền định” của Daniel Goleman đã cung cấp cho người Tây phương một bản ghi toàn diện về nghệ thuật và khoa học thiền định đến từ các tôn giáo lớn trên thế giới. Trong phần hai của cuốn sách, ông viết chủ yếu về Thiền Phật giáo, bao gồm việc nhắc tới Abhidhamma – Luận tạng hay Vi diệu pháp, như một phạm trù Tâm lý học phương Đông. Kể từ năm 1990, với việc công bố một chương trình thử nghiệm trong các bệnh viện mang tên Liệu pháp Giảm thiểu Lo âu trên nền tảng Chánh niệm (MBSR[2]), GS. John Kabat-Zinn cùng cuốn sách với cái tên rất hấp dẫn của ông là “Cách sống đầy thảm hoạ” đã làm trỗi dậy mối quan tâm về việc ứng dụng Thiền Chánh niệm của Phật giáo trong một loạt các bệnh lý y khoa bao gồm hoảng loạn, lo âu, trầm cảm và cơn đau mãn tính. Sự thực hành trên Chánh niệm giờ đây đang được giảng dạy sớm cho sinh viên Y khoa để giúp đỡ chính họ trong một ngành nghề vốn nhiều căng thẳng cũng như để họ hướng dẫn về tính hữu dụng của thiền cho các bệnh nhân. Thiền Chánh niệm giờ đây xác lập được vị trí vững chắc như là một kỹ thuật khoa học có kiểm chứng có thể được áp dụng để điều trị ngày càng nhiều các bệnh lý về thể chất và tâm lý. Năm 1992, Jack Kornfield đã xuất bản cuốn “Con Đường với Trái tim”. Đây là một cuốn sách chỉ dẫn một cách chi tiết với sự hài hước lớn cũng như nội thị cách thức thực hành các giáo lý toàn diện của Phật giáo cho người phương Tây. Kornfield đã dành cuốn sách để tri ân những người thầy trong Đạo Phật đến từ các truyền thống Tây Tạng, Thái Lan, Ấn Độ và Miến Điện. Năm 1996, nhà phân tâm học và trị liệu tâm lý Jeffrey B. Rubin đã xuất bản cuốn sách với tựa đề đơn giản là “Liệu pháp tâm lý và Đạo Phật – Hướng tới một sự kết hợp”. Ông kết luận rằng Trường phái phân tâm học (trong tâm lý học phương Tây) và Đạo Phật có thể được kết hợp để giúp hiện thực hóa những thế mạnh chuyên biệt và tiềm năng giải thoát [khỏi những nỗi đau tâm lý]. Kể từ năm 1997, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã thường xuyên gặp nhóm các nhà khoa học (được lựa chọn) để thảo luận về mối tương giao và những chiếc cầu nối giữa sinh học, khoa học nhận thức, khoa học não bộ, tâm lý học và triết học – những ngành học có mối liên hệ gần nhất với truyền thống Phật giáo. Trong phần ba của “Chuỗi chương trình Tâm thức và Cuộc sống”, câu hỏi về việc bằng cách nào tâm thức có thể chữa lành cơ thể của chúng ta đã được đặt ra. Bản ghi chép thuật lại cuộc hội thảo giữa những vị Giảng sư trong Phật giáo và các học giả phương Tây đã được xuất bản trong cuốn sách “Chữa lành Cảm xúc”, được biên tập bởi Daniel Goleman. Gần đây nhất, sau bi kịch ngày 11/9/2001, Viện Tâm thức và Cuộc sống đã xuất bản cuốn sách vào năm 2003 với đề tựa là “Những xúc cảm hủy diệt – và làm thế nào chúng ta có thể vượt qua chúng”. Cuốn sách này nỗ lực trả lời cho câu hỏi tại sao có những người có vẻ tỉnh táo và thông minh lại phạm những tội ác và gây bạo lực; và cái gì có thể là nguyên nhân gốc rễ đưa đến những hành vi hủy diệt. Mới đây vào tháng 5/2005, Christopher Germer cùng các đồng nghiệp đã viết và biên tập một cuốn sách có tính thực hành cung cấp một hiểu biết toàn diện về Chánh niệm và những ứng dụng đương đại trong trị liệu. Cuốn sách này giờ đây là nguồn tham khảo cần thiết đối với bất kỳ ai quan tâm tới Thiền hay các tiếp cận có nền tảng khoa học khác nhằm phát huy hiệu quả của Tâm lý Trị liệu. (tiếp phần sau) Nguyên tác Tiếng Anh: Dr. Eng-Kong Tan (2006) Nhóm dịch giả Thiền Trị Liệu (2022) |
Quang HằngVới sự hứng thú trong Thiền, Phật học ứng dụng, và Sức khỏe tâm lý, các bài viết được góp nhặt và đăng tải với hy vọng giúp Đạo hữu và cư sĩ hiểu hơn về lợi ích của Thiền trong Tâm lý trị liệu. Archives
October 2024
Categories
All
|
RSS Feed
