|
THIỀN TRỊ LIỆU | Tâm lý trị liệu trên nền tảng Thiền Phật giáo
Q.L, 48 (tuổi), một nữ tu tập sự, đã thực hành thiền tập tâm từ với tôi lần đầu tiên vào tháng 12/2015. Trước đó trong nhiều năm, cô từng là một cận sự nữ khá hào phóng và thường thực hành hạnh bố thí cùng dường cho chư tăng ni. Sau khi lắng nghe câu chuyện của cô về những rắc rối gia đình, đồng thời nhận thấy sự bực tức mà cô ấy hướng về một nữ tu có tuổi, tôi đã gợi ý cô ấy hành tập tâm từ để lấy lại chút bình an trong tâm. Sau khoảng 10 phút chia sẻ lời Pháp một cách cô đọng, Q.L bắt đầu cùng hành tập thiền tâm từ theo sự hướng dẫn của tôi. Sau khoảng 20-30 phút hành tập, nét mặt cô ấy đã thư giãn hơn rất nhiều. Ánh mắt long lanh, cô ấy nói: “Con cảm thấy hạnh phúc kỳ lạ, và tự thấy đôi khi mình đã quá ích kỷ […]” Ứng dụng Thiền tâm từ trong Tâm lý trị liệu (3) CHỮA LÀNH NỖI ĐAU TÂM THỨC QUA THIỀN TÂM TỪ ỨNG DỤNG Một số bản dịch Tiếng Anh của bài Kinh ‘The Mettasutta’ (Khp 9)[1] thường dịch metta nghĩa là ‘sự thân thiện, tình bạn’ (friendliness). Tuy vậy, bản kinh gốc ‘Sn 1.8: The karaṇīyamettā’ lại nhắc về hình tượng người mẹ sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đứa con của mình. Điều đó cho thấy sự hành tập thiền tâm từ khi xuất phát từ vẻ đẹp của trái tim sẽ chứng tỏ ý nghĩa của hành động quan trọng hơn lời nói. Cũng vậy, rất nhiều lời Pháp mà Đức Phật thuyết cho đệ tử hơn 2,500 năm trước đây đều ẩn ý về thái độ của tâm hướng về hành động của chính mình, bởi chúng (các hành, sankharā) chính là nghiệp (karma/kamma). Do con người có thể kinh nghiệm cả hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha), sự hành tập mettabhavana là đặc biệt cần thiết và quan trọng. Việc thực hành metta trong bài kinh trên nhắc nhở chúng ta nên vun đắp các hành thiện hay tâm ý thiện trong từng hành động đơn sơ mỗi ngày. Khi tâm trí được tắm mình trong ‘vẻ đẹp’ của thiện ý, ‘vẻ đẹp’ ấy có thể lan tỏa tới mọi chúng sanh cư ngụ cõi trên, cõi dưới và tứ phương. Như một tia sáng chói lòa trong bóng tối, vẻ đẹp của thiện tâm trong sự thực hành mettabhavana ngày lập tức xóa tan đi những khổ đau tinh thần. Khi những khổ đau tinh thần với gốc bất thiện của sân hận và vô minh được tạm thời xóa bỏ, tâm trí sẽ bình yên trở lại. Mặt khác, bản chất của mettā là sự chăm lo đến lợi ích của đối tượng. Thường thì rất nhiều vị thiện nam tín nữ khi thực hành bố thí ít quan tâm đến cảm xúc, nhu cầu thật sự của đối tượng thí. Điều này cũng bình thường thôi, bởi trong rất nhiều hoàn cảnh chúng ta khó có thể đủ thời gian và sâu sắc nghĩ cho mọi người. Tuy nhiên, khi thực hành và thực sự hiểu bản chất của ‘từ tâm metta’, có một sự lợi lạc vô cùng lớn mà hành giả sẽ ngạc nhiên với chính mình. Đó là khi thực sự quan tâm tới đối tượng (“chân ái” của bạn có thể chỉ là một chú mèo, chú chó, hay một người nào đó), thì bản thân mình sẽ tự cố gắng hoàn thiện vun đắp bản thân để cảm thấy xứng đáng hơn với vẻ đẹp, chân giá trị của từ tâm. Như một người bạn chân thành sẽ bảo vệ bạn “với sự kham nhẫn, vô hại, từ ái và cảm thông”[2], hay thậm chí “hy sinh cả mạng sống”[3], tình yêu vô điều kiện mà một người mẹ có thể dành cho đứa con của mình là một ẩn dụ khiến chúng ta phải suy tư. O., 30 (tuổi), một nữ nội trợ lập gia đình được 03 năm tìm đến tôi đề nghị tôi hướng dẫn thiền. Mặc dù biết nhau từ những năm Đại học, lời đề nghị của cô ấy vẫn khiến tôi cân nhắc. Cô ấy thông minh, đảm đang và cũng có vai trò quan trọng trong gia đình mình. Tôi đoán có lẽ sự ra đi của người bố khiến cô ấy có phần buồn bã và bất an. Tôi hỏi cô ấy: “Mục đích mà O. muốn tìm kiếm là gì khi học thiền, sự bình an hay tuệ quán và sự hiểu rõ hơn với những gì đang trải qua trong tâm?”. Cô ấy không do dự, lựa chọn bình an. Tôi mỉm cười và hướng dẫn cô ấy thiền tập tâm từ. Sau 02 ngày trở về nhà, cô ấy nói với tôi rằng sự thực hành quả thực rất khó khi mà tâm trí cô ấy cứ bị quẩn quanh trong nỗi sợ và sự giận dữ mơ hồ. Tôi đã biết điều cô ấy cần và chỉ chờ sự hồi đáp đó. Trên điện thoại, tôi hướng dẫn O. thực tập Chánh niệm trong hơi thở, vởi sự hướng tâm về hơi thở để lấy định quán vipassana. Cô ấy cảm thấy rất ổn với những hướng dẫn sơ khai đó và bắt đầu thực hành chúng mỗi ngày... TỪ ÁI HAY CHÁNH NIỆM? Không giống O., Q.L trong câu chuyện đầu tiên lại rất thành công khi bắt đầu với thiền tâm từ, dẫu rằng sự thực hành sau đó không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đối với cả hai trường hợp, tác giả tôi cũng chỉ giới hạn tiếp xúc trực tiếp vì tôi hiểu, những cư sĩ hay nữ tu thực tập vẫn luôn mang gánh nặng nghiệp duyên riêng. Họ không như chúng tôi - những người toàn tâm ý cho lộ trình thực hành Giáo pháp và học ‘buông’ từ gánh nặng gia quyến tới những xúc chạm thế gian. Bởi vậy, chỉ khi họ chủ động tìm kiếm, chúng tôi mới tùy duyên mà dẫn tập. Trở lại trường hợp của Q.L, đứng về góc độ tâm lý và đạo đức khá dễ dàng lý giải cho việc hành tập thiền tâm từ. Thực chất hiệu quả của thiền tập tâm từ chỉ có thể thấy được khi tâm hành giả có sự thanh lọc sơ khởi với những tạp nhiễm hoặc có hỷ lạc phát sinh trong 10 pháp thiện[4]. Tôi đã lắng nghe Q.L khởi tâm bố thí cho một vị Trưởng lão, thêm cùng những bất ổn trong mối quan hệ gia đình riêng, nên tôi chỉ giúp cô ấy tạm thời buông đi những trở ngại trần thế, hướng tâm hỷ lạc đến pháp hành bố thí để từ đó trải rộng từ tâm cho những đối tượng cụ thể trong vòng quan hệ con người mà cô ấy đang kinh qua. Sự thực hành thiền tâm từ như đã phân tích, phải đi trên nền tảng của sự thanh lọc tâm thức. Một tâm trí chất đầy những u não tính toan của thế gian thì rất khó “lệnh” cho chúng chìm xuống để phát khởi tâm từ. Đó là lý do vì sao hành giả cần thêm đức tin và chỉ dẫn từ người đi trước để sự thực hành không bị lạc lối qua tà kiến và tưởng tri. Theo dấu kinh điển cổ xưa, trong bài pháp cho đệ tử tại vùng Sedaka Bắc Ấn, Đức Phật đã tóm tắt sự thiện xảo trong việc song hành thiền tập Tâm từ và Chánh niệm như sau: Và này các Tỷ-kheo, thế nào trong khi hộ trì cho mình, là hộ trì người khác? | Phần 1 | Phần 2 | (QH | 05-2016) --- [1] https://suttacentral.net/kp9/en/anandajoti [2] S v.169 [3] D iii.187 [4] https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha312.htm [5] https://suttacentral.net/sn47.19/vi/minh_chau Trong cuốn Từ ái, tác giả Salzberg S. (2002, trang 37-38) đồng thuận với quan điểm của Ngài Buddhaghosa (Vm iv.41) trong việc lựa chọn quyết định không hy sinh một ai trong 05 người là bản thân, người thiện nguyện, người bạn, người trung lập và kẻ thù. Từ một quan điểm không đồng thuận, ĐĐ Dhammika (2005, tr. 4) phê phán lựa chọn trên “đi ngược lại lời Phật dạy rằng một vị với tâm từ ái sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho sự sinh tồn của người khác” (D iii.187). Để hiểu hơn về bản chất của mettā, chúng ta sẽ cùng khảo sát bài kinh The Mettasutta (Khp 9) và quan sát sâu hơn ứng dụng của thiền tâm từ trong việc hàn gắn và chữa lành nỗi đau (dukkha). THIỀN TÂM TỪ TRONG TẠNG KINH PALI Tâm từ ái – mettā – được nhắc đến trong Tạng Kinh Pali (Sutta Pitaka) như một trong bốn pháp hành tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả). Sự thực hành định trên tứ vô lượng tâm cũng là nền tảng phát sanh tuệ khi kết hợp với thực hành Chánh niệm hay thiền quán (A 8.63) hoặc tâm an trú trong thiền để “đưa đến trú xứ Phạm thiên” (DN 13). Đặc biệt hơn, lời dạy của Đức Phật khi thực hành tứ vô lượng tâm không nhằm mục đích hướng đến cõi Phạm thiên trú xứ như các tôn giáo đương thời, mà để nuôi dưỡng tuệ quán nhằm chấm dứt sự khổ trong luân hồi (S 46.54, Sn 1.8). Vị thiện xảo mục đích / Cần phải làm như sau: / Sau khi hiểu thông suốt / Con đường an tịnh ấy / Có khả năng trực tánh / Thật sự, khéo chân trực / Dễ nói và nhu hòa / Không có gì cao mạn / Sống cảm thấy vừa đủ / Nuôi sống thật dễ dàng / Ít có sự rộn ràng / Sống đạm bạc, giản dị / Các căn được tịnh lạc / Khôn ngoan và thận trọng / Không xông xáo gia đình / Không tham ái, tham vọng / Các hành sở của mình / Không nhỏ nhen, vụn vặt / Khiến người khác có trí / Có thể sanh chỉ trích / Mong mọi loài chúng sanh / Ðược an lạc, an ổn / Mong chúng chứng đạt được /Hạnh phúc và an lạc.
Tri kỷ (twin flames) xuất hiện như một cơn mưa nhẹ làm mát lòng, cũng có thể như một cơn bão tố. Tình cảm đó khiến con người ta trưởng thành, biết hy sinh và đọc thấu lợi ích của nhau. Ở một chừng mực nào đó, tình tri kỷ có thể khiến vị ấy có những “giác ngộ” tâm linh đặc biệt, dẫu rằng điều đó không phải “may mắn” đến với bất kỳ ai. Tuy nhiên, dục ái có thể phát sinh mãnh liệt cho đến khi tuệ quán về ngũ uẩn được tỏ tường. Kẻ thù gần của mettabhavana là dục ái khi tham đắm vào vẻ đẹp của đối tượng mà metta hướng đến. Đó là lý do chánh niệm vẫn luôn cần được vun bồi để tỉnh trí nhìn dukkha. Ngược lại, tình mẹ, hình ảnh ẩn dụ trong bài Kinh Lòng từ - The Mettasutta được Đức Phật ví với tâm từ ái. Hình ảnh này không giống như tri kỷ, mặc dù cũng là sự hy sinh lợi ích và thậm chí cả tính mạng cho hạnh phúc của đối tượng. “Người chửa cửa mả” và những tai biến khi sinh nở cho thấy sinh đẻ là quãng thời gian nguy hiểm nhất của thai phụ. Trong quãng thời gian khoảng 9 tháng mang thai, thai phụ ấy thay đổi cả về thể chất và tinh thần, nhiều thai phụ sau đó có biến chứng trầm cảm tới mức độ nặng và cần rất nhiều năm sau này để phục hồi những chấn tương tâm lý. Dẫu hiểm nguy là thế, bản năng tự nhiên của một người mẹ vẫn chăm chút cho đứa con bằng cả mạng sống của chính mình. Vì lẽ ấy, tình mẹ không chỉ là thứ tình thiêng liêng của vũ trụ, mà nó còn là thứ tình nuôi dưỡng tâm hồn và sự trưởng thành nhân cách. Việc phát triển lòng từ được hoán dụ như tình mẹ là giúp hành giả nuôi dưỡng sự yêu thương vô điều kiện đối với mọi chúng sanh. Tâm thức ấy không nên có sự phân biệt cho dù chúng sanh ấy từng gieo bất thiện nghiệp đối với mình. Sự thực hành từ ái quả thực không dễ dàng, và không phải ngẫu nhiên mà mettabhavana lại không phải là sự thực hành cốt lõi để chấm dứt luân hồi. Dẫu vậy, những ứng dụng của thiền tâm từ thực sự như một liều thuốc giảm đau cho chính người hành tập. Có lẽ trước khi mổ, ai cũng cần được gây mê. Và có lẽ vậy mà thiền tâm từ nên chăng được nhìn nhận, ứng dụng một cách đúng đắn hơn trong các trị liệu nỗi đau tinh thần ngày nay. | Quang Hằng | Tiếp phần 3 >> Ứng dụng Thiền tâm từ (1) Một khảo sát nhanh về hai cụm từ khóa “thiền Chánh niệm” và “thiền tâm từ”, tìm kiếm online [1]tại Úc trong hai cùng kỳ thời gian từ tháng 03/2014 – 02/2015 và 03/2015 – 02/2016 cho thấy cái nhìn thú vị về sự ứng dụng thiền Phật giáo trong trị liệu tâm thức. Lượt tìm kiếm cùng kỳ năm thứ hai trên Google cho cả hai liệu pháp thiền lần lượt là 5,990 (thiền Chánh niệm) và 3,990 (thiền tâm từ). Mặc dù sự quan tâm tới “thiền Chánh niệm” vẫn luôn chiếm ưu thế vượt trội, lượt tìm kiếm trực tuyến cho sự thực hành thiền tâm từ của cùng kỳ năm thứ hai tăng 1,51 lần, từ 390 lên 590 lượt quan tâm mỗi tháng. Thực tiễn Tâm lý trị liệu hiện đại nhìn về hơn 2,500 năm tâm linh của thiền Phật giáo đã áp dụng thiền quán hay vipassanā cho mục đích tìm kiếm một liệu pháp mới giúp phục hồi các tổn thương tinh thần. Cho tới một thập kỷ gần đây, sự quan tâm dành cho thiền tâm từ - một tâm hành metta (từ ái) được Đức Phật Gautama đề cập đến trong kinh điển Pali (thực hành tứ vô lượng tâm)[2] – lại chưa được áp dụng phổ biến. Trong nội dung bài viết này, sự hiểu biết và nuôi dưỡng tâm từ ái (mettabhavana) sẽ được ghi lược lại, làm tư liệu cho việc thực hành chữa lành nỗi đau tâm thức và [cùng với Chánh niệm] điều chỉnh lại những tà kiến còn hiện hữu nơi tâm để hành giả có thể tìm về một tâm thức bình an. LỢI ÍCH CỦA THIỀN TÂM TỪ (A v.342)
Thú vị hơn, sự thực hành từ ái trong tâm có thể làm vắng mặt sân hận, được Đức Phật khuyến khích tu tập để gieo trồng phước nghiệp[3]. Cụ thể là, sự thực hành từ tâm nếu được nuôi dưỡng từ khi còn thơ ấu sẽ đưa đến quả thiện cho tương lai của đứa trẻ (A v.300). Thực vậy, với những ai có đủ phước duyên và may mắn được nuôi dưỡng trong môi trường đầy thiện tánh như chính Đức bồ tát Siddhartha Gautama thuở nhỏ và con trai ngài thế tử Rāhula, thì sự vun bồi thiện căn và trí tuệ sẽ đưa đường tới Đạo quả giải thoát và an vui tuyệt đối. Để tìm hiểu thêm sự góp mặt của mettabhavana hay thiền tâm từ trong Kinh điển xưa và trong ứng dụng ngày nay, mời bạn chờ theo dõi phần sau nhé. |Quang Hằng | tiếp phần 2 >> *** Bài viết có nguồn tư liệu nghiên cứu từ Kinh điển Pali Nikaya. Các chú thích chuyên ngành trên có thể được tham khảo trong bộ Kinh Nikaya dịch Việt bởi HT Thích Minh Châu. [1] trên công cụ Google Adwords [2] Từ, Bi, Hỷ, Xả [3] A iv.89, A iv.395 KHI CÓ CHÁNH KIẾN VÀ CHÁNH NIỆM ĐỦ MẠNH << tiếp phần 1 *** Nếu nhìn vọng tưởng xuất phát từ vô minh (moha) là một bản năng bất thiện, thì chỉ khi MINH hay Chánh Kiến khởi lên, các hành (saṅkhāra) mới trở thành hành thiện và đưa đến thiện nghiệp (kusala kamma). Chính điều này đã thay đổi bản năng bất thiện vốn tồn tại bao năm nơi tâm chúng tôi. Tâm lý học và tâm lý trị liệu ngày nay khi đi tìm những phương thuốc chữa trị các căn bệnh về tinh thần, stress và các chấn thương tâm lý lại nghiên cứu, áp dụng Chánh Niệm từ Đạo Phật. Có một điều khác là sự áp dụng này còn mang tính thực dụng và bề nổi. Theo một góc nhìn phê phán của những học giả Phật học thuần túy, sự áp dụng bề mặt thiếu kiểm soát [bệnh nhân] trên phương diện Đạo đức và thiếu đi sự giảng dạy về Giáo pháp thuần túy khiến cho việc điều trị mang tính chất tạm thời. Ở một góc nhìn phản biện, TS Eng-kong Tan (2016)[i] - một nhà tâm lý học trị liệu với hơn 30 năm kinh nghiệm - chia sẻ rằng khi những khách hàng của ông sau quá trình điều trị (có thể vài năm) chợt nhận ra, và thay đổi hành động theo phương châm đạo đức, là lúc ông cảm thấy cả mình và khách hàng đã thành công trên lộ trình trị liệu tâm lý. “Cha đẻ” của MBSR, John Kabat-Zinn - người rất thành công khi đưa lộ trình 8 tuần trị liệu dựa trên nền tảng chánh niệm vào các bệnh viện và trường học tại Mỹ từ năm 1979 - cũng đồng thuận với phản biện về Đạo đức và Giáo pháp trên nền tảng [mâu thuẫn các quan điểm] tôn giáo nếu chúng được đưa vào lộ trình trị liệu. Tuy vậy ông nhận định rằng Đạo đức nên chăng là vấn đề ngầm định trong các trị liệu hiện đại với MBIs – các ngăn chặn trên nền tảng chánh niệm (Kabat-Zinn 2011)[ii]. Trên phương diện cá nhân, chúng tôi hướng đến Đạo đức được hình thành trên nền tảng 5 giới cơ bản của một Phật tử thuần thành: (1) Không sát sanh, (2) Không nói sai sự thật, (3) Không thông dâm, (4) Không lấy của không cho và (5) Không uống rượu và các chất say. Việc giữ các giới này không khẳng định rằng một cá nhân theo Đạo Phật hay một tôn giáo cụ thể, nhưng chúng là tiền đề cho sức mạnh của Chánh Niệm. ‘Niệm’ được hiểu là sự nhớ nghĩ, hay biết. Chánh niệm và thiền quán được dạy bởi Đức Gautama nhấn mạnh tới hai ý nghĩa: (1) hiện tại hiện tiền (S 47.2)[iii] và (2) sự vô thường của các pháp hữu vi (S 47.35)[iv]. Nếu một hành giả có tâm ý bất thiện, thì khi hành thiền, các bất thiện nghiệp khởi lên. Chúng là rào cản của chánh định và cũng là căn nguyên của những bất an tinh thần. Ngược lại, một hành giả có tác ý giữ giới và hành thiện, vị ấy rất tự nhiên vui sống với các hành thiện đó. Hỷ lạc phát sinh khi vị đó ngồi tĩnh lặng chiêm nghiệm. Với Giáo pháp cùng sự tu tập, khi căn duyên vừa đủ, MINH (tuệ quán) khởi lên giúp vị đó thấy rõ các pháp như nó vốn là. Chánh niệm là một trong 5 căn thức của 37 phẩm trợ Đạo (đưa đến giác ngộ), cũng chính là một trong 5 sức mạnh giúp một hành giả tinh tấn hành trì trên con đường giải thoát. Khi Chánh Niệm đủ mạnh, các bản năng thiện tự động sinh khởi mà không cần thêm một tác ý thay đổi nào. Nói theo một cách khác, cùng với Chánh Kiến và Chánh Tinh Tấn, hành giả ấy hay biết, ghi nhận sự vô thường của Danh và Sắc, có thể sống với thái độ an nhiên tự tại và áp dụng Đạo như một nghệ thuật sống để đối diện, ứng phó với những nghịch cảnh có thể xảy ra. BẢN NĂNG YÊU THƯƠNG Bản năng yêu thương được tích hợp trong nhu cầu tâm lý bậc 3 của tháp nhu cầu Maslow (1943). Tuy vậy, khi nhìn rộng ra muôn loài, bản năng yêu thương được hình thành ngay khi chúng có sự sống. Goran Anastasovski - một nhiếp ảnh gia đến từ Macedonia - đã dành hơn 12 năm lưu giữ lại những khoảnh khắc đầy yêu thương của các loài động vật trong tự nhiên[v]. Bản năng yêu thương trong Đạo Phật dùng hình tượng tình mẹ để thấy sự hy sinh trong tâm từ - tình yêu thương không vị kỷ (mettā or loving-kindness). Tâm từ ái, đồng nghĩa với sự vắng mặt của sân hận (abyāpādo), cũng chính là một trong 4 pháp nguyên sơ, không tạp nhiễm và trường tồn với thời gian (A 4.29)[vi]. Hơn lúc nào hết trong thế giới hiện tại này, bản năng yêu thương cho muôn loài nên được đánh thức và vun bồi trong tâm hồn trẻ nhỏ, để có thể tránh những lệch lạc của tâm lý khi trưởng thành (như trầm cảm, tự kỷ, cảm giác cô độc hay bị kỳ thị, v.v). Nếu như chúng ta chưa thể thực hành theo lời dạy của Đức Gautama với mục đích chấm dứt sự khổ (dukkha) trong luân hồi, thì cũng có thể học theo Đức chúa Giêsu gieo trồng một tình yêu thương hướng thượng. Và nếu như chưa thể buông bỏ sự sống, thì cũng có thể học cách yêu sự sống với tâm từ ái và hướng về vị Phật tương lai, Đức Metteyya[vii] - vị Bồ tát mang biểu tượng của tâm từ bi, hạnh phúc trong Đạo. Quang Hằng NSW, 03-10-2016. [i] Khóa học Healing traditions: Buddhism and Psychotherapy tại NTI (2016) [ii] https://drive.google.com/file/d/0B03M5lle_5i4czJici10SGlJaTA/view [iii] https://suttacentral.net/vn/sn47.2 [iv] https://suttacentral.net/pi/sn47.35 [v] http://thieunien.vn/67-vui-doc-la/19316-chum-anh-chung-minh-yeu-thuong-la-ban-nang-cua-muon-loai.html [vi] https://suttacentral.net/vn/an4.29 [vii] https://vi.wikipedia.org/wiki/Di-lặc Sức khỏe tinh thần được biết đến là gánh nặng lớn thứ ba ở nước Úc, chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm gần 200 loại bệnh không gây tử vong (xem Hình 1). Nhóm các bệnh tinh thần đáng chú ý bao gồm nhiều hiện trạng bệnh lý đa dạng như “rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu, lạm dụng dược chất, rối loạn phát triển hành vi, tâm thần phân liệt và thiểu năng trí tuệ” (theo Viện Sức khỏe và Phúc lợi Úc - AIHW 2011, trang 149). Đáp lại những lo âu về sức khỏe tinh thần, trong các thập niên gần đây xuất hiện một mối quan tâm ngày càng lớn đối với các kỹ thuật trị liệu trên nền tảng Thiền và Chánh niệm (theo Shonin và các tác giả, 2014a). THIỀN LÀ GÌ?Thiền trong tiếng Pali và tiếng Phạn là bhāvāna[i] được ghi nhận đã tồn tại trước lịch sử chữ viết xuyên suốt pháp hành dhyāna[ii] (thiền định) thuộc các tôn giáo Đông Phương cổ đại. Theo đó nguồn gốc của Thiền mang nhiều dạng thức tôn giáo khác nhau từ Ấn Độ giáo (Hinduism), Kỳ Na giáo (Jainism), Phật giáo Ấn Độ cho đến Đạo giáo (Lão giáo) và Phật giáo Trung Hoa (theo Everly & Lating 2013, trang 201-4). Viện Khoa Học Tinh Thần (Institute of Noetic Science - IONS) dựa trên những nghiên cứu và công trình xuất bản đã định nghĩa Thiền là “một trong những chìa khóa thực tiễn cho việc nuôi dưỡng sự chuyển hóa tích cực trong nhận thức”. Trong khi đó Hiệp Hội Thiền Úc Châu (Meditation Association of Australia) nhận định Thiền như một phương diện quan trọng trong triết lý phương Đông giúp chấm dứt mọi khổ đau[iii]. Tác giả John Strong (2015, trang 150) hoàn toàn đồng quan điểm khi nói “chánh niệm và chánh định, hai trong tám chi phần của Bát Chánh Đạo, theo truyền thống được xem là hai yếu tố của sự tu thiền”. Để hiểu được mục tiêu tối thượng của triết lý đạo Phật là đạt đến Niết Bàn (Nirvana), Strong đã giải thích tóm lược Niệm (sati) và Thiền quán (vipassanā-bhāvanā), phân biệt chúng với Thiền định (samatha-bhāvanā) trước khi đi đến ý niệm rằng “trí tuệ đến từ sự tỉnh thức với thực tại” (trang 153). Việc áp dụng thực tiễn chánh niệm trong tâm lý trị liệu như một liệu pháp phục hồi cũng như trong các thử nghiệm lâm sàng (theo Germer và một số tác giả 2005, Kabat-Zinn 1990, Didonna 2008) đã tạo nên sự phổ biến của Thiền quán ở Tây phương từ những năm 1960. Cũng thời điểm này triết lý về Thiền của Đông Phương cổ đại được chú ý và lan tỏa (theo Viện Khoa Học Tinh Thần - IONS). Tuy nhiên, tiếp cận Thiền còn bao gồm sự thực hành tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) hay các yếu tố tâm linh khác. Vì thế trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sẽ tóm lược mô thức Thiền đương đại đang được thực hành ngày nay. Theo sau đó là một dẫn giải sơ lược các giá trị Phật giáo gắn liền với Thiền trong thực tiễn truyền thống từ góc nhìn học liệu Tây phương. Cuối cùng, quan điểm của tác giả về cách áp dụng liệu pháp Thiền vì hạnh phúc cá nhân sẽ được chia sẻ nhanh cho mục tiêu thực nghiệm tương lai. [i] Tự điển Wikipedia về Thiền Bhavana, https://en.wikipedia.org/wiki/Bhavana [ii] Dhyana từ tiếng Phạn, hoặc trong tiếng Pali là jhana, dùng để chỉ trạng thái thiền để đạt đến định (samatha, hay samadhi). [iii] “Thiền để giác ngộ” (QH | 12-2018) |
Quang HằngVới sự hứng thú trong Thiền, Phật học ứng dụng, và Sức khỏe tâm lý, các bài viết được góp nhặt và đăng tải với hy vọng giúp Đạo hữu và cư sĩ hiểu hơn về lợi ích của Thiền trong Tâm lý trị liệu. Archives
October 2024
Categories
All
|

RSS Feed
