|
THIỀN TRỊ LIỆU | Tâm lý trị liệu trên nền tảng Thiền Phật giáo
|
Một gánh nặng trên vai. Một cuộc đời tai hại. Sống thảm bại dưới mốc thời gian. “Bạn”, “Tôi”, “Chúng ta” đã làm gì trong ngần ấy năm? Chạy theo những điều “phù phiếm” mà không có một con đường “tự do” cho riêng mình? “Tự do” là tự tại, không ràng buộc, nhưng dường như chúng ta vẫn bị tài, danh, lợi, sắc dục, thức ăn và sự ngủ nghỉ chi phối, trói buộc. Và chúng ta cho rằng điều đó là hạnh phúc, nhưng đâu biết rằng nó dẫn chúng ta vào chốn đoạn trường. “Kiếp phù sinh” như cơn gió mong manh thoáng qua, như cây khô sắp gãy nhánh lìa cành, không mang vẻ lấp lánh thanh cao, chỉ là một kiếp người lao đao nơi vực thẳm. Ta dành cả đời để chạy theo cái gọi là hạnh phúc tạm thời, như con thiêu thân lao vào lửa, cho đó là hạnh phúc thật sự. Rồi những buồn, vui, sợ hãi, ái ố, ganh ghét, đố kỵ, tham lam, sân hận, si mê bao lấy khiến ta sống một cuộc đời tai hại và tầm thường. Vậy, có phải đó là hạnh phúc mà ta đang tìm kiếm, hay chỉ là ngục tù bức bách giam giữ bản thân? Có cách nào thoát khỏi ngục tù này để tìm hạnh phúc chân thật không? Sở dĩ ta đau khổ là vì ta không quay vào nhìn nhận bên trong, mà cứ mãi chạy ra bên ngoài. Thấy cái hào nhoáng của thế gian rồi cho rằng đó là hạnh phúc, để rồi rơi vào vòng xoáy khổ đau. Lúc này, đạo Phật như sợi dây cứu sinh, giúp ta thoát khổ, tìm lại hạnh phúc, vì giáo lý của Phật dạy ta quay vào bên trong, nhìn vào nội tâm mình, “phản quang tự kỷ.” Và thiền quán hay thiền tứ niệm xứ có thể nói là giải pháp hiệu quả nhất giúp ta thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống khi tự nhìn nhận chính mình. "Thiền", theo tác giả, là không chạy theo ngoại cảnh, không tư tưởng, nhớ nhung. "Quán" là quan sát, thấy, biết, nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn. Thiền hiểu đơn giản là phương pháp tập trung vào một đối tượng cụ thể như hơi thở, hoặc một ý tưởng trừu tượng, để nhìn sâu vào bản chất thật của sự tồn tại. Khác biệt hơn hết, mục tiêu của thiền quán là đạt được sự tĩnh lặng trong tâm và giác ngộ. Trong thiền quán, người thực hành tập trung vào hiện tại và chấp nhận mọi suy nghĩ, cảm xúc mà không phán xét. Bằng cách quan sát chân thực, người tu hiểu rõ hơn về bản chất của tâm trí và tự thân. Chẳng hạn, khi ngồi thiền, cảm giác đau do ngồi lâu khởi lên, nhưng thay vì chạy theo dòng suy nghĩ bứt rứt, người thiền quan sát và thấy rõ cơn đau đó là giả. Thiền “Tứ Niệm xứ” là sự tĩnh lặng nhìn nhận quan sát 4 đề mục để thoát khổ: thân, thọ, tâm, pháp. “Quán thân bất tịnh, Cảm thọ là khổ, Tâm là vô thường, Pháp là vô ngã”. Trong đó quán tâm theo chiêm nghiệm của tác giả được xem là một đề mục quan trọng để đoạn diệt tham, sân, si. Thấy được bản chất của tâm một các rõ ràng nhất. Như Hòa thượng Viên Minh dạy: “Tất cả mọi sự trên đời này điều có một ý nghĩa duy nhất, đó là xem thử phản ứng của tâm mình như thế nào”. Đau khổ cũng từ tâm, buồn vui cũng từ tâm, ghanh ghét cũng từ tâm, hỷ nổ ái ố cũng từ tâm, chạy theo danh lợi, phù phiếm cũng do tâm. Trong cuộc sống giữa những biến động: được, mất, còn, hơn thua, lời khen, tiếng chê, buồn, vui, ganh ghét, nhỏ nhen, ích kỷ tất cả điều do tâm tham mà ra. Chẳng hạn, trong một kiếp sống nhân sinh, chúng ta sẽ trải qua những biến cố của cuộc đời, có những bài học làm ta nhớ mãi, cũng có những vết thương sẽ được chữa lành. Ai trong chúng ta cũng từng trải qua cái gọi là “Bị tổn thương”. Tổn thương do sự cho đi không được nhận lại. Sở dĩ ta tổn thương là vì trong cái cho của ta có sự mong cầu. Mà mong cầu đó là tham. Ta “sợ” không ai nhớ đến ta rồi tự mình đau khổ, nếu giây phút ta bình tĩnh, nhìn nhận để thấy được trong sự cho đi của ta có mong cầu là ta đang “quán”, sự tĩnh lặng là “thiền”, thấy được sự việc đau khổ trên do tâm tham tạo ra là ta đang “quán tâm”. Khi thấy được bản chất thật sự của tâm, nguyên nhân nguồn cội của sự việc là do đâu thì những đau buồn, ganh ghét, buồn bực sẽ bay theo cơn chỉ còn lại niềm vui của người và hạnh phúc của ta.Trong chúng ta chắc chắn một điều ai cũng sẽ có tâm tham tiền, tham tài, tham danh vọng nhưng quan trọng là ít hay nhiều. Chúng ta chạy theo, đắm nhiễm, bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa tàn nhẫn chỉ cần đạt được để rồi đánh mất hạnh phúc. Nếu ta thấy được điều đó là tham thì đó là đang “quán tâm”. Lúc này, quyết định đưa ra phương án “buông bỏ” để tìm lại lý tưởng, hạnh phúc thật sự nhưng chúng ta “buông” liệu có thật sự “bỏ”? Còn sợ, còn mong cầu là còn tham. Có những điều rất vi tế mà chúng ta không thấy, nhưng khi ngồi “thiền” một cách thật tĩnh lặng, rồi suy nghĩ về vấn đề thì chúng ta phát hiện mình vẫn còn tham. Chẳng hạn, bạn là một người cực kì khao khát điểm số và cho rằng điều đó thể hiện bạn là người “giỏi”. Bạn bất chấp tất cả những xấu xa để đạt được. Một ngày, bạn nhận ra nó là tham, làm bạn đau khổ. Bạn thấy được rồi tuyên bố với mọi người “Tôi đã buông bỏ được” Nhưng khi cô gọi bạn lên trả bài, kiểm tra hay phát bảng điểm bạn lại sợ. Tại sao bạn sợ, điều gì làm bạn sợ? Có phải bạn còn tham, mong cầu điểm, hay gì đó nên bạn sợ? Cuối cùng mình lại đi vào con đường cũ mà không hay biết, vô tình rơi vào vòng xoáy khổ vị. Cuộc đời chúng ta vô vàn chữ “lầm”: thương lầm, ghét lầm, buông lầm. Tất cả chữ lầm hiện hữu là do ta chưa thật sự nhìn nhận nó một cách đúng đắn, vì nó quá vi tế. Nhưng ngồi thiền quán chiếu lâu ta mới có thể thấy. Ta nói buông bỏ nhưng thật chất ta chỉ để đó rồi một ngày sẽ cầm nắm lên lại. Ta ăn món đó nhiều nhất khi ta thèm, đó là tham. Ăn xong rồi ta nói: “Mai mốt tôi không bao giờ ăn nữa!”. Khi nào ta nói câu đó? Khi ta đã ăn xong món đó rồi. Nhìn thấy được sự tham của mình là do đâu thì đó là “Quán tâm tham”. Tâm sân giống như một trạng thái tâm lý nơi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và không bị ảnh hưởng bởi biến động xung quanh. Tuy nhiên, trong trường hợp chúng ta giận dữ và nói rằng: “tôi không giận”, điều này có thể không phải là quán tâm vô thường đích thực. Cũng giống như câu: “U mê mà không biết mình u mê là người thật sự rất u mê”. Thay vào đó giữ im lặng về cảm xúc của mình, quan trọng hơn là bạn có thể chấp nhận và hiểu rõ nguyên nhân của sự giận dữ và cách nó ảnh hưởng đến bạn và người khác rồi chấm dứt nó thì đó lá nhìn sự vô thường của tâm sân hận. Nhìn tâm không phải là việc giả vờ hoặc phủ nhận cảm xúc của chúng ta, mà là khả năng nhìn nhận và chấp nhận cảm xúc đó mà không bị vấp ngã hoặc bị nuốt trôi bởi chúng. Điều quan trọng là bạn có thể tìm hiểu tại sao bạn cảm thấy giận dữ, có thể thảo luận một cách xây dựng với người thày/người tham vấn, và tìm cách giải quyết xung đột một cách ít gây tổn thương hơn. Hay khi có những mối quan hệ nghịch lòng nhau. Ta nghĩ ta đã hết giận, buông bỏ, nhưng khi ta ngồi thiền tĩnh lặng, ta phát hiện ta suy nghĩ mãi về vấn đề đó nghĩa là ta chưa buông được cái giận nên ta còn nghĩ về nó, nếu không giận ta sẽ không nghĩ về nó vì không có vấn đề nào ở đây. Hoặc khi đi hành thiền, chân không mang dép ta sẽ cảm nhận viên sỏi một cách rõ ràng nhất, nếu ta khởi lên tâm ghét nó vì làm ta đau đó là ta đang sân một biểu hiện của tâm sân. Đôi khi ta hay nói với mọi người rằng: “Tôi rất thương mọi người dù mọi người làm gì tôi cũng không tức giận!”. Vậy liệu có thật sự thương, phải chăng quán tâm sân là như vậy? Chẳng hạn, một con muỗi cắn ta, ta cảm thấy đau đớn ta sân giận đập chết nó? Một con muỗi nhỏ bé "động chạm" ta, ta không thương nổi, sao một con người đầy mưu mô ta có thương được! Không đó chỉ là lời hứa, lời nói suông của ta, nó không thật. Cũng vậy! Tâm người không bao giờ chắc chắn một phút giây nào. Nó thay đổi trong mỗi sát na. Không phải khi ta ngồi bất động mới thấy được sự thật mà khi hành thiền quen dần ta áp dụng nó ở mọi nơi, mọi lúc, mỗi giây, mỗi phút thiết lập cho ta chánh niệm hiện tiền nghĩa là sự tập trung ở hiện tại nó sẽ trở thói quen. Khi gặp chuyện thì ta sẽ biết nó là tâm gì. Do đó, mà khi ta khởi cái tâm giận ta biết ta giận, khởi tâm tham ta biết ta tham, khởi tâm si ta biết ta si. Thấy vô thường, tính thật giả của tâm rồi từ từ đoạn trừ nó. Không có sự khó chỉ sợ ta không nhận biết nó là tâm gì rồi mê muội, bám chấp để ngày qua tháng lại mưa dầm thắm sương, ta đau khổ. Nhưng điều này còn phụ thuộc vào từng khoảng thời gian ta hành thiền dài hay ngắn. Thời gian ban đầu ta không biết tâm ta thật sự ở đâu nhưng khi ngồi khoảng thời gian dài và áp dụng vào cuộc sống tâm ta ở trong thực tại. Một con người tâm như thế nào thì cuộc sống của người đó. Tâm đẹp cuộc sống đẹp. Giống như việc chế trà với một cái tâm thực tại an nhiên không có tham, sân, si thì sẽ luôn ở phút giây hiện tại và khi cầm rót trà sẽ không có sự hấp tấp, từ tốn nhẹ nhàng không có một giọt trà rơi ra. Chén trà rót một lượng vừa đủ, khi bưng trà tâm vẫn chánh niệm cảm nhận hương thơm, vị đắng, ngọt một cách rõ ràng nhất thì người đó tâm đang ở thực tại. Thực tập quán chiếu vô thường trong cuộc sống hàng ngày là một cách để chúng ta nhìn nhận và chấp nhận sự vô thường của mọi hiện tượng trong cuộc sống. Vô thường có nghĩa là mọi thứ đều thay đổi và không cố định. Bằng cách nhìn nhận sự vô thường, chúng ta không bị mắc kẹt trong sự gắn bó hoặc đau khổ với những thay đổi. Thực tập quán tâm vô thường giúp chúng ta giải phóng khỏi sự gắn bó và đau khổ, và mang đến sự tự do và bình an trong tâm hồn. Tác giả: TN Thánh Hòa
Biên tập: QH Chánh niệm được đưa vào huấn luyện cho nhóm quân cảnh tại Mỹ từ nhiều thập kỷ, đạt được nhiều lợi ích tinh thần đáng kể[1][[2]. Nhưng... ...those skills are often taught in nontraditional ways. In firearms training, for example, recruits are taught to breathe and meditate to reduce stress and improve accuracy[3]. Nhiều thập kỷ kể từ khi Chánh niệm đương đại được đưa vào huấn luyện và đào tạo các lực lượng vũ trang tại Mỹ, đã xuất hiện các tranh cãi về cách thức Chánh niệm bị lược bỏ các yếu tố truyền thống mang góc nhìn đạo đức[4]. Theo đó, các sĩ quan trước đây được huấn luyện tập trung cao độ, lược bỏ chấn thương tâm lý, và bình ổn cảm xúc để tiếp tục nhiệm vụ của những "chiến binh" trên chiến trường. Bài viết trên The Washington Post năm 2015 đã nêu lên những "điều chỉnh" đáng kể trong mô thức huấn luyện quân cảnh mới, nêu bật nội hàm của "những người bảo vệ" mang vũ trang đứng trước những công dân yếm thế. Tuy vậy, mô thức huấn luyện mới này vẫn rất khó để hiện thực hoá, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay[3]. Câu hỏi đặt ra là: những vị thày huấn luyện có đủ hiểu về Chánh niệm trong bối cảnh truyền thống để ứng dụng phù hợp với cảm quan thời đại chưa? Chúng ta nên cẩn trọng những gì khi thực hành chánh niệm đương đại? --QH-- Trong thế giới đầy căng thẳng ngày nay, sức khỏe tâm thần đã trở thành một vấn đề cấp bách. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, cứ 1 trong 7 thanh thiếu niên toàn cầu đang mắc các rối loạn sức khỏe tâm thần, trong khi hàng năm có 700.000 người trong độ tuổi từ 15 đến 29 tử vong vì tự tử, khiến tự tử trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đứng thứ 4 trong nhóm tuổi này (WHO, 2022[1]). Gánh nặng của bệnh tâm thần trải rộng qua một loạt các rối loạn, bao gồm rối loạn tâm thần lưỡng cực, lo âu, sử dụng chất gây nghiện, rối loạn hành vi và phát triển, tâm thần phân liệt và khuyết tật trí tuệ (AIHW, 2011[2]). Đối mặt với cuộc khủng hoảng sức khỏe ngày càng tăng này, đã có một sự quan tâm mới đến các tiếp cận dựa trên Chánh niệm trong những thập kỷ qua, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Một trong những người tiên phong trong việc tích hợp Chánh niệm vào các trị liệu lâm sàng là Jon Kabat-Zinn, người đã xây dựng chương trình 'Giảm thiểu căng thẳng dựa trên Chánh niệm' (MBSR) vào năm 1979, với trọng tâm là thực hành thiền chánh niệm và thiền tâm từ (Kabat-Zinn, 2003[3]). Công việc của Kabat-Zinn đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đưa sự thực hành phương Đông mang ảnh hưởng của tôn giáo vào các đối tượng thử nghiệm lâm sàng và tâm lý trị liệu phương Tây, mở ra cánh cửa mới cho cách thức chữa lành và tự phục hồi. Thiền Chánh niệm, có nguồn gốc từ sự thực hành cổ xưa của đạo Phật từ cách đây 2.600 năm, được hiểu rõ bởi những hành giả thực hành vipassanā tức tu tập thiền quán. Thuật ngữ "thiền Phật giáo" liên quan chặt chẽ đến mục đích cuối cùng là Niết bàn (Sanskrit: निर्वाण, nirvāṇa; Pali: nibbāna), đại diện cho sự tự do tuyệt đối khỏi mọi ngọn nguồn khổ đau thông qua sự thực hành truyền thống được mô tả chi tiết trong bản kinh nổi tiếng the Satipatṭhāna sutta - Bốn nền tảng thiết lập Chánh niệm trong tạng Kinh cổ ngữ Pali (Pāli Nikāya[4]). Do vậy, trọng tâm của các can thiệp trên nền tảng Chánh niệm[5] đương đại nằm ở sức mạnh của việc trau dồi sự hay biết và hiện diện trong khoảnh khắc hiện tại. Chánh niệm không chỉ liên quan tới việc chú tâm đến các suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta, mà còn hòa nhịp lắng nghe các cảm giác thể chất, hơi thở và môi trường xung quanh. Chánh niệm khuyến khích chúng ta thiết lập sự kết nối sâu sắc với bản thân, với mọi người và với thế giới xung quanh, nuôi dưỡng cảm giác kết nối tương hỗ và lòng trắc ẩn. Đó là sự trải nghiệm và ghi nhận khoảnh khắc hiện tại một cách trọn vẹn, thay vì bị lạc dòng tư tưởng bởi những lo lắng về quá khứ hoặc tương lai. Một trong những khía cạnh độc đáo của các can thiệp chánh niệm là hướng tiếp cận toàn diện trong trị liệu, bao gồm tâm trí, thân thể và tinh thần. Chánh niệm mời gọi chúng ta phát triển một mối quan hệ đầy cảm thông với chính mình và thế giới xung quanh, để sống đúng mục đích và thiện ý. Thông qua việc thực hành thường xuyên liên tục, hành giả thấy được sự tiến bộ về nhận thức bản thân và kiểm soát cảm xúc tốt hơn, giảm thiểu căng thẳng, cải thiện chức năng nhận thức, cải thiện mối quan hệ, nuôi dưỡng khả năng tự phục hồi và sự bình an nội tâm. Theo đó, các thử nghiệm với can thiệp chánh niệm đã được chứng minh là có tác động sâu sắc đến sức khỏe tâm lý và hạnh phúc thân-tâm mà không yêu cầu chẩn đoán cụ thể về trạng thái tâm thần. Hơn nữa, các can thiệp dựa trên chánh niệm hiện nay, gọi tắt là liệu pháp chánh niệm hay can thiệp chánh niệm, đã được ứng dụng hiệu quả trong việc điều trị khá nhiều các biến chứng tâm thần, bao gồm lo âu, trầm cảm, mất ngủ, rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), nghiện và rối loạn ăn uống. Với những phiền muộn và căng thẳng không ngừng trong nhịp sống hiện đại ngày nay, những khoảnh khắc an yên dần trở nên quý hiếm và trở thành một xu thế tìm kiếm. Chúng ta thường thấy bản thân lạc lối trong sự hỗn loạn của dòng suy tư, lo lắng và trách nhiệm; quên đi việc sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện tại. Tuy nhiên, giữa bối cảnh hỗn loạn đó tồn tại một phương thức giản đơn nhưng vô cùng mạnh mẽ, có thể mang chúng ta trở lại khám phá chân lý cuộc sống - đó là thực hành Chánh niệm. [1] World Health Organization 2022, Mental health, World Health Organization, online webpage, viewed 2 April 2023, https://www.who.int/features/factfiles/mental_health/en/
[2] AIHW 2011, Impact and causes of illness and death in Australia 2011, Australian Burden of Disease Study series, Number 3 [3] Kabat-Zinn, J. (2003). Mindfulness-based stress reduction (MBSR). Constructivism in the Human Sciences, 8(2), 73–107. [4] Bản kinh gốc Pāli này có một vài dị bản tương ưng có thể tìm tham khảo trong bộ A-hàm Hán tạng như MA 98, MA 31, v.v. [5] mindfulness-based interventions (MBIs) Theo khảo cứu sơ bộ, các dữ liệu được trích dẫn bởi báo địa phương và UNICEF Việt Nam đóng vai trò như một lời cảnh tỉnh cho chính phủ và xã hội Việt Nam nói chung để ưu tiên và đầu tư vào các nguồn lực và hệ thống hỗ trợ về sức khỏe tinh thần. Bài báo gần đây được đăng tải online trên một tờ báo địa phương tại Việt Nam đã đưa ra những lo ngại nghiêm trọng về tình trạng sức khỏe tâm thần trong nước. Những con số được thu thập từ Khoa Tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai đã cho thấy rằng khoảng 30% dân số Việt Nam[1] đã từng trải qua ít nhất một rối loạn tâm thần trong suốt cuộc đời của họ. Càng đáng lo ngại hơn, một nửa số người bị ảnh hưởng đã tìm kiếm những phương thức trị liệu cho các vấn đề tâm lý (Le, 2022)[2]. Ngoài ra, UNICEF Việt Nam (2018) cũng đã triển khai một nghiên cứu trên diện rộng về sức khỏe tinh thần và tình trạng tâm lý của trẻ em và thanh niên trong nước[3]. Nghiên cứu này cho thấy rằng từ 8% đến 29% dân số trẻ Việt Nam đang gặp phải vấn đề sức khỏe tâm thần. Trước đây trong truyền thống Phật giáo, giới tu sĩ thường được biết đến với lối sống ẩn cư và tu tập như một kỷ luật tôn giáo. Tuy nhiên, thời nay, việc thực hành tu tập trong Phật giáo đã chuyển dịch sang cách tiếp cận sứ mệnh hóa, bao gồm việc nghiên cứu kinh điển, truyền bá các giáo lý Phật giáo và tham gia các hoạt động xã hội (Schedneck, 2021)[4]. Việc sử dụng thiền chánh niệm (mindfulness meditation) như một cách thức giúp giảm bớt khổ đau tinh thần và thúc đẩy sức khỏe tâm lý trong xã hội hiện đại không hoàn toàn giống với Tự do Niết Bàn, nói cách khác là sự tận diệt khổ đau của con người, mà giới tu sĩ Phật giáo đã hành trì xuyên suốt 2,600 năm kể từ khi Đức Phật Gotama chứng ngộ và chỉ dẫn lộ đạo cho hàng cư sĩ và đệ tử. Ngày nay, sự quan tâm đến lợi ích của thiền chánh niệm đã tăng lên đáng kể, cả trong lĩnh vực học thuật và tâm lý lâm sàng trong vài thập kỷ gần đây (Germer et al. 2005; Tirch et al. 2016; Gold & Zahm 2018)[5]. Sự phổ biến của thiền chánh niệm hiện đại đã trở thành một xu hướng gia tăng từ các quốc gia phương Tây về lại phương Đông, đặc biệt là trong bối cảnh các xung đột và khủng hoảng toàn cầu, khi mọi người tìm nhiều cách để vượt qua các bất ổn tinh thần cá nhân và cải thiện hiện trạng tâm lý của mình. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo như Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam, thiền chánh niệm đã trở thành một phong trào thế tục được đông đảo cư sĩ ủng hộ. Sự chuyển đổi từ thực hành tôn giáo truyền thống sang các hình thức tu tập chánh niệm thế tục đang là lời giải cho những đòi hỏi phức tạp và nhu cầu đổi thay tất yếu của xã hội hiện đại. Khác với các xã hội truyền thống hoặc cổ xưa, nơi mà sự thực hành văn hóa và tín ngưỡng có thể thường được nhìn nhận mang tính tập thể và tôn giáo, các xã hội hiện đại ngày nay được đặc trưng bởi lối sống vội, những chuẩn mực văn hóa không ngừng thay đổi, những tiến bộ công nghệ AI và sự thể hiện cá nhân đậm nét. Việc chú trọng đặc biệt đến thực hành chánh niệm được minh chứng là một phương thức để mọi cá nhân trong các xã hội đô thị giải quyết những vấn đề tâm lý cũng như hướng đến sự cân bằng, hòa bình và ý nghĩa của cuộc sống. Quang Hằng --- [1] Tới 2023, dân số Việt Nam ước tính khoảng 100 triệu người. Dữ liệu trích xuất 15/02/2023, https://www.worldometers.info/world-population/vietnam-population/ [2] Le Duy, 2022. “We are not paying enough mind to mental illnesses”. Perspectives. VNExpress International. Retrieved on 15 Feb 2023, https://e.vnexpress.net/news/perspectives/we-are-not-paying-enough-mind-to-mental-illnesses-4428398.html [3] Nghiên cứu này thực hiện khảo sát dân số trẻ của đại diện 10 trên 63 tỉnh thành Việt Nam. Dữ liệu trích xuất 16/02/2023, https://www.unicef.org/vietnam/reports/mental-health-and-psychosocial-wellbeing-among-children-and-young-people-viet-nam [4] Dữ liệu trích xuất 15/02/2023 https://doi.org/10.1093/acrefore/9780199340378.013.875 [5] Sách tham khảo Instant coffee - you drink it every day. Instant noodles - you eat them always. Today, let's try out 'instant mindfulness'. This succinct modality is neither an early traditional mindfulness practice, nor the endmost Buddhist method - yet it's worth trying. -- Joticandā
DUKKHASACCA – THE TRUTH OF SUFFERING“[Re]birth is suffering; old age is suffering; illness is suffering; death is suffering; association with the disliked is suffering; separation from the liked is suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.” (SN 56.11) The Pāli canon listed eight types of dukkha, grouping the first four of the bodily domain and the last four involving the mental process. To begin with, birth is suffering. Why? As a matter of fact, there are potential dangers both for the baby themselves as well as for the mother. Mortality rate in over 200 nations scores Afghanistan as the top country with the highest rate of infant deaths (10,7%), followed by the other African neighbors. The modern-day Nepal where Siddhartha Gautama was born, is ranked the 69th whereas Australia is amongst the lowest rate group, ranked the 214th out of 227 surveyed countries (CIA 2018). On the other hand, the maternal mortality rate has recently raised concerns, particularly in the high-income countries. In the US, 17.4 per 100,000 live births were recorded, which is almost 3.5 times that of maternal deaths in Australia (Statista 2020). Other than some wisdom and insights accompanied with the old, no man is truly happy with his physical status when time, disease and death visit him. Indeed, our body is nothing but a domain for both sensual pleasures as well as bodily diseases[1]. Throughout history, never a king, from Alexander the Great of the ancient Greek to Qin Shi Huang emperor of China, could surpass the impermanence law of all worldly matters including the vulnerable body. Because old age, illness and death are intrinsically of dukkha nature. Sadly, ageing is not the only problem. It adds up mental distress as time goes by. One out of four young Australians in the 16-24 age group are having mental disorders. 33% of women in comparison with 25% of men need treatments, yet men’s access to mental healthcare is humbly recorded (Bright Hope Australia 2014). Roberts (2019) studies death risks by population groups aged 15-74, reporting that the unemployed and low socio-economical status groups having mental problems are likely dying 3 to 6 times faster than the average population. Back to the Buddha’s words, mental distress appears when associating with the disliked, separating from the liked, or failing to achieve what is wished for. To summarize, the grasping of five compounds that constitute the body-and-mind is suffering in short, which requires us further time in contemplation and introspection. [1] AN 10.60 Girimānanda, Anguttara Nikaya – The book of the tens, trans. Bodhi Bhikkhu. Viewed 17 June 2021, https://suttacentral.net/an10.60/en/bodhi THE PRISON OF LIFE Thanissaro Bhikkhu (1997) considers saṃvega and pasada as the two most momentous emotions in Buddhist exegesis that did “inspire the young prince in his quest for awakening”. The former term, saṃvega, spiritually denotes the fearful multifaceted intensity of uncertainties such as birth, disease, ageing and death – which only create the futility of life. The latter however, pasada – as a light at the end of the tunnel, conjectures that there is a certain way out of the above predicaments, which is seen as the way-out door that prevents possible, negative consequences of saṃvega. In other words, the path here in Buddhist practices is to take saṃvega to a further step in thoroughly understanding potential dangers of life circles, thence discerning pasada. Indeed, sufferings or dukkha are much needed for men to get insights about the Truth of suffering. Therewith “right view comes first” (MN 117), then successively followed by right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration (SN 56.11). Furthermore, light at the end of the tunnel brings up not only confidence in overcoming life’s fears but also a perception of deathlessness – another word for Nibbāna, a condition where no more rebirth [of living existence] is taken place. In the next section, we will discuss that light of wisdom and its impact on a ‘well being’ in the modern society where health crucially matters. THE LIGHT OF WISDOM FOR ‘TOTAL HEALTH’ A total health “involves more than just physical fitness” (Health Promotion Board n.d.). Interestingly, the Health Promotion Board of Singapore Government specifies the five-fold wellness including physical health (diet and sleep in particular), nutrition, physical activity, mental health, and smoke-free. Which is quite similar to the Health Fitness Revolution (2014) except that hygiene and sleep components are replaced for smoke-free and physical health. “When we talk about health, we can’t just focus on heart, liver or brain health. We have to look at total health and well-being and see the whole person and make use of tools and resources that benefit both mind and body” (Lutz 2018). So, in which way that Buddhist practices could help to resolve health-related concerns? “Aniccā vata saṅkhārā uppādavayadhammino The impermanence law (anicca) of all conditioned things (saṅkhārā) is succinctly defined as “to arise” and “to cease” with time as the main determinant. The first layer of meaning literally implies that the cessation of an ‘arising to passing-away’ phase would lead to the feeling of contentment. Although that does not refer to physical death, it is noteworthy to refute suicides because of their self-destruction inherently. In another deeper sense: Yo ca vassasatam jive apassam udayabbayam Without mud, there is no lotus. Without darkness, the value of light is never realized. Only through contemplating the dukkha nature of the body, diseases and death in particular, could we yearn for a course of action towards the ending of dukkha[1]. Therefore, dukkha should be seen as spiritual challenges rather than bad fortunes. Accordingly, it is more important to learn new attitudes of acceptance whatever is happening here and now. Over time, one shall meet an insight into the Truths, realizing that moments of happiness appear just when dukkha fades away. There is no point searching for happiness if one understands his own dukkha and lets dukkha happen as the way it should be. Interventions to comfort dukkha will be much needed, as long as hatred-rooted thoughts [of dukkha] are rectified within the mind. Again, the absence of ill-will blossoms into peaceful moments. Which are sweet fruits from skillful practices in Buddhist meditation from time to time.
--- Hang Ho (06/2021) ---- [1] The Pāli term is nirodha, cessation. Nirodhasacca, the third Truth of the end of suffering. Ref.: https://encyclopediaofbuddhism.org/wiki/Nirodha_sacc How Mindfulness heals global crisis? Only in several years, we have been facing with the globally unstable situations such as the bombing in Sri Lanka, protests in Hong Kong, world-wide Coronavirus disease, Russia-Ukraine war and recent China-Taiwan tensions. Almost all countries have been financially affected by the Covid-19. Approaching this situation, Fouts’s article published by Forbe (2020)[1] raises a solution to stabilize the economy with mindfulness practices. As a coach working clients amidst the global crisis, she described how threatened of life and worried of loss that came to people’s lives. She guided them the calming practice in line with mindfulness technique in order to detach oneself from every day’s problems. In another interview, Boyce (2011)[2] focuses on the healing power of mindfulness and discusses with distinguished experts such as Jon Kabat-Zinn, Daniel Siegel and Susan Bauer-Wu – those have practiced and taught mindfulness in the West for years. The critical role of mindfulness can prevent “stress, early diagnosis, and making healthy lifestyle choices” – says Bauer-Wu. Also, Daniel Siegel adds that “the mindful way of being supports a healthy mind and more empathic relationships”. Jon Kabat-Zinn thereafter addresses the “breaking down” of current healthcare system in the US caused by the fact that people “need more participation from the people who are suffering”. Interestingly, mindfulness – a technique introduced to the US hospitals in the 1990s by Jon Kabat-Zinn “isn’t all calm and peace”. Rather, mindfulness practices “uncover dark and difficult thoughts”. Daniel Siegel explains this mental process with the concept of the unconsciousness that holds negative mental states (i.e. fear, anger, cheating, sadness), which will come up on the surface of conscious zone while practising mindfulness. The negative thoughts and feelings are recognized, mediated and transformed in the mind. People with depression will benefit the most while encountering with ugly parts within themselves in order to re-fresh their current moment. The healing process, as Kabat-Zinn noted, leads to wisdom and clarity. In this regard, Bauer-Wu couldn’t agree more with an emphasis of gaining insight to resolve some of dysfunctional states that lower well-being. In summary, garnering expert views in this very brief writing proves the benefits of mindfulness practices amidst the global crises. How we put mindfulness into daily practice and how we learn insights depend on each individual’s journey and efforts. While mindfulness can heal our negative mental states during crisis, one can also choose to end crisis permanently if cultivating enough the 10 paramis – which is another topic only for the Buddha’s disciples looking for the absolute freedom. The teachings of Buddhism are wide and deep, mostly for aspirants who wants to abandon their suffering ultimately. Nevertheless, in these days of global crises, utilizing Buddhist-deprived practices for peace and unity is also beneficial for any human being. Hang Ho (08/2022) in response to a question given by IBSC/MCU. [1] Ref.: https://www.forbes.com/sites/forbescoachescouncil/2020/04/10/mindfulness-during-global-and-economic-crisis/?sh=4d4d0ed851a2 [2] Ref. https://www.mindful.org/the-healing-power-of-mindfulness/ |
Quang HằngVới sự hứng thú trong Thiền, Phật học ứng dụng, và Sức khỏe tâm lý, các bài viết được góp nhặt và đăng tải với hy vọng giúp Đạo hữu và cư sĩ hiểu hơn về lợi ích của Thiền trong Tâm lý trị liệu. Archives
October 2024
Categories
All
|
RSS Feed
