|
THIỀN TRỊ LIỆU | Tâm lý trị liệu trên nền tảng Thiền Phật giáo
|
Tôi nhớ lần đầu tiên tôi thực sự nhận ra điều này – khoảnh khắc tôi nhìn vào đôi mắt giận dữ của con và bất ngờ như nhìn thấy chính mình khi còn nhỏ. Cảm giác của sự tức giận, bất lực, và xa cách mà tôi từng trải qua với cha mẹ giờ đây lại hiện hữu trước mặt tôi, qua chính hành vi của đứa con mà tôi yêu thương nhất. Tôi đã tự hỏi: Tại sao con lại như thế? Tại sao chúng ta không thể hiểu nhau? Và rồi tôi nhận ra, có lẽ những phản ứng đó không phải hoàn toàn là lỗi của con. Có lẽ, chính tôi cũng đang phản chiếu lại cách mình đã được nuôi dưỡng, cách mà tôi chưa bao giờ thực sự đối diện với những cảm xúc từ thời thơ ấu. Khi vô tình lướt qua thông tin về workshop “Thuyết Gắn Bó và Chánh Niệm trong Quan Hệ Cha Mẹ - Con Cái”, một phần trong tôi thôi thúc phải tìm hiểu thêm. Tôi quyết định đăng ký – một phần vì muốn thay đổi cách mình nuôi dạy con, và phần khác là để tìm hiểu sâu hơn về chính mình. Buổi workshop đó thực sự là một bước ngoặt.Trong những giờ phút đầu tiên, khi chúng tôi thực hành bài kiểm tra về phong cách gắn bó, tôi nhận ra rằng mình thuộc kiểu gắn bó lo âu – sự bất an từ thời thơ ấu đã ảnh hưởng đến mọi mối quan hệ thân mật của tôi, không chỉ với con mà còn với những người thân xung quanh. Qua sự chia sẻ trong nhóm và lắng nghe câu chuyện của những bậc cha mẹ khác, tôi nhận ra mình không cô đơn trong cuộc hành trình này. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất là khi chúng tôi thực hành 15 phút thiền lắng đọng nội tâm. Giữa sự tĩnh lặng, tôi lần đầu tiên cảm nhận rõ ràng cảm xúc của mình trước khi phản ứng. Sự giận dữ dần nhường chỗ cho sự tò mò, và thay vì vội vàng trách mắng, tôi bắt đầu học cách lắng nghe con mình thực sự – không chỉ bằng đôi tai, mà bằng cả trái tim. Cuộc sống của tôi thay đổi từ đó. Tôi không chỉ thấy mình trở nên bình tĩnh hơn trong những khoảnh khắc căng thẳng, mà còn tạo dựng được một môi trường an toàn và thấu hiểu hơn cho con. Cảm giác rằng con đã dần mở lòng hơn, không còn là những phản kháng và hiểu lầm, mà là những cuộc trò chuyện đầy yêu thương. Tôi kể câu chuyện này vì tôi biết có lẽ bạn cũng từng cảm thấy như tôi đã từng. Nếu bạn cũng nhìn thấy chính mình trong hành vi của con, nếu bạn muốn học cách kết nối và thấu hiểu con hơn, tôi mời bạn tham gia cùng tôi. Workshop này không chỉ thay đổi cách chúng ta làm cha mẹ, mà còn thay đổi cách chúng ta nhìn nhận và chữa lành những vết thương từ quá khứ. Đăng ký tại đây: bit.ly/GuongPhanChieu
Ngày diễn ra: 27-10-2024, qua ZOOM Online. Đây có thể là khởi đầu cho hành trình mà bạn và con bạn luôn xứng đáng có được. Trong vòng xoáy của những yêu cầu cuộc sống, bạn dễ dàng đánh mất hình ảnh thật sự vốn có của chính mình. Căng thẳng, lo âu và đứng giữa những lựa chọn không chắc chắn có thể làm mờ tâm trí, khiến bạn cảm thấy muốn thu mình lại với thế giới xung quanh? Nếu có một người tham vấn giúp bạn hiểu rõ những khó khăn và gợi mở con đường trở về bình yên thì sao?
Hãy tưởng tượng về một không gian mà bạn thực sự được nhìn nhận và lắng nghe, nơi những lo lắng của bạn không chỉ được công nhận mà còn được đồng cảm. Trong buổi tư vấn miễn phí đầu tiên kéo dài 15 phút, chúng ta sẽ cùng khám phá nhu cầu, nỗi lo và mối quan tâm của bạn. Buổi gặp Google Meet trực tuyến này là cơ hội để kết nối, đánh giá sự phù hợp trước khi bạn lựa chọn một thỏa ước tham vấn hay quyết định cách thức phù hợp nhất trên lộ trình sống của riêng bạn. Dù bạn đang vật lộn với căng thẳng, lo âu, hay đơn giản chỉ tìm kiếm sự rõ ràng, đây không chỉ là trị liệu—mà là một sự đồng hành trên con đường học tập mới, đọc những trang sách của chính cuộc đời bạn. Hãy bước những bước đầu tiên hướng tới một thái độ sống bao dung, viên mãn hơn khi hoàng hôn tắt nắng. ✨ Cùng bạn tìm kiếm sức mạnh và sự bình yên bên trong. Đặt lịch hẹn ngay hôm nay, cùng khám phá cách tốt nhất để hỗ trợ bạn trên hành trình phát triển bản thân và tìm về bình yên nội tâm nhé! ✨ Kiểm soát cảm xúc là khả năng điều chỉnh – tức là, thay đổi và chuyển hóa các trải nghiệm cảm xúc của một người. Sự điều tiết cảm xúc khác với việc kiềm chế hay cất giấu cảm xúc cá nhân, và cũng khác với việc giải tỏa cảm xúc khi một người thể hiện hoặc bộc lộ mạnh mẽ các cảm xúc của họ. Những cách đánh giá (có ý thức) kém hiệu quả về một tình cảnh áp lực hoặc nhiều thách thức bao gồm tự trách cứ, dằn vặt (tái hiện những ký ức và cảm xúc khó chịu), bi kịch hóa vấn đề (nghĩ về hoàn cảnh theo kiểu nó tồi tệ hơn trong thực tế) và đổ lỗi cho người khác. Những cách đánh giá (có ý thức) về cảm xúc cá nhân có tính hiệu quả hơn bao gồm chấp nhận, tái tập trung tới các mặt tích cực (hướng sự tập trung của một người tới những thứ khác không liên quan hoặc dễ chịu), đánh giá tích cực (nhìn thấy những mặt tích cực từ tình huống khó khăn) và thay đổi góc nhìn. Dưới đây là bảng hỏi đánh giá khả năng điều tiết cảm xúc của bạn thông qua một chuỗi những tiến trình nhận thức, chẳng hạn như tái đánh giá tích cực (suy ngẫm lại một cách tích cực hơn về sự kiện tạo nên cảm xúc), chấp nhận, dằn vặt và tự trách mình. Hãy cho biết bạn suy nghĩ thường xuyên tới mức nào khi trải qua các sự kiện căng thẳng trong đời hoặc có tính đe dọa mạnh mẽ theo những cách dưới đây nhé. (Tú Anh)
--------- Liên hệ Thiền Trị Liệu Youtube: https://www.youtube.com/@Thien-Therapy Email: [email protected] Hotline: +84705199649 (Zalo,Whatsapp) Một gánh nặng trên vai. Một cuộc đời tai hại. Sống thảm bại dưới mốc thời gian. “Bạn”, “Tôi”, “Chúng ta” đã làm gì trong ngần ấy năm? Chạy theo những điều “phù phiếm” mà không có một con đường “tự do” cho riêng mình? “Tự do” là tự tại, không ràng buộc, nhưng dường như chúng ta vẫn bị tài, danh, lợi, sắc dục, thức ăn và sự ngủ nghỉ chi phối, trói buộc. Và chúng ta cho rằng điều đó là hạnh phúc, nhưng đâu biết rằng nó dẫn chúng ta vào chốn đoạn trường. “Kiếp phù sinh” như cơn gió mong manh thoáng qua, như cây khô sắp gãy nhánh lìa cành, không mang vẻ lấp lánh thanh cao, chỉ là một kiếp người lao đao nơi vực thẳm. Ta dành cả đời để chạy theo cái gọi là hạnh phúc tạm thời, như con thiêu thân lao vào lửa, cho đó là hạnh phúc thật sự. Rồi những buồn, vui, sợ hãi, ái ố, ganh ghét, đố kỵ, tham lam, sân hận, si mê bao lấy khiến ta sống một cuộc đời tai hại và tầm thường. Vậy, có phải đó là hạnh phúc mà ta đang tìm kiếm, hay chỉ là ngục tù bức bách giam giữ bản thân? Có cách nào thoát khỏi ngục tù này để tìm hạnh phúc chân thật không? Sở dĩ ta đau khổ là vì ta không quay vào nhìn nhận bên trong, mà cứ mãi chạy ra bên ngoài. Thấy cái hào nhoáng của thế gian rồi cho rằng đó là hạnh phúc, để rồi rơi vào vòng xoáy khổ đau. Lúc này, đạo Phật như sợi dây cứu sinh, giúp ta thoát khổ, tìm lại hạnh phúc, vì giáo lý của Phật dạy ta quay vào bên trong, nhìn vào nội tâm mình, “phản quang tự kỷ.” Và thiền quán hay thiền tứ niệm xứ có thể nói là giải pháp hiệu quả nhất giúp ta thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống khi tự nhìn nhận chính mình. "Thiền", theo tác giả, là không chạy theo ngoại cảnh, không tư tưởng, nhớ nhung. "Quán" là quan sát, thấy, biết, nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn. Thiền hiểu đơn giản là phương pháp tập trung vào một đối tượng cụ thể như hơi thở, hoặc một ý tưởng trừu tượng, để nhìn sâu vào bản chất thật của sự tồn tại. Khác biệt hơn hết, mục tiêu của thiền quán là đạt được sự tĩnh lặng trong tâm và giác ngộ. Trong thiền quán, người thực hành tập trung vào hiện tại và chấp nhận mọi suy nghĩ, cảm xúc mà không phán xét. Bằng cách quan sát chân thực, người tu hiểu rõ hơn về bản chất của tâm trí và tự thân. Chẳng hạn, khi ngồi thiền, cảm giác đau do ngồi lâu khởi lên, nhưng thay vì chạy theo dòng suy nghĩ bứt rứt, người thiền quan sát và thấy rõ cơn đau đó là giả. Thiền “Tứ Niệm xứ” là sự tĩnh lặng nhìn nhận quan sát 4 đề mục để thoát khổ: thân, thọ, tâm, pháp. “Quán thân bất tịnh, Cảm thọ là khổ, Tâm là vô thường, Pháp là vô ngã”. Trong đó quán tâm theo chiêm nghiệm của tác giả được xem là một đề mục quan trọng để đoạn diệt tham, sân, si. Thấy được bản chất của tâm một các rõ ràng nhất. Như Hòa thượng Viên Minh dạy: “Tất cả mọi sự trên đời này điều có một ý nghĩa duy nhất, đó là xem thử phản ứng của tâm mình như thế nào”. Đau khổ cũng từ tâm, buồn vui cũng từ tâm, ghanh ghét cũng từ tâm, hỷ nổ ái ố cũng từ tâm, chạy theo danh lợi, phù phiếm cũng do tâm. Trong cuộc sống giữa những biến động: được, mất, còn, hơn thua, lời khen, tiếng chê, buồn, vui, ganh ghét, nhỏ nhen, ích kỷ tất cả điều do tâm tham mà ra. Chẳng hạn, trong một kiếp sống nhân sinh, chúng ta sẽ trải qua những biến cố của cuộc đời, có những bài học làm ta nhớ mãi, cũng có những vết thương sẽ được chữa lành. Ai trong chúng ta cũng từng trải qua cái gọi là “Bị tổn thương”. Tổn thương do sự cho đi không được nhận lại. Sở dĩ ta tổn thương là vì trong cái cho của ta có sự mong cầu. Mà mong cầu đó là tham. Ta “sợ” không ai nhớ đến ta rồi tự mình đau khổ, nếu giây phút ta bình tĩnh, nhìn nhận để thấy được trong sự cho đi của ta có mong cầu là ta đang “quán”, sự tĩnh lặng là “thiền”, thấy được sự việc đau khổ trên do tâm tham tạo ra là ta đang “quán tâm”. Khi thấy được bản chất thật sự của tâm, nguyên nhân nguồn cội của sự việc là do đâu thì những đau buồn, ganh ghét, buồn bực sẽ bay theo cơn chỉ còn lại niềm vui của người và hạnh phúc của ta.Trong chúng ta chắc chắn một điều ai cũng sẽ có tâm tham tiền, tham tài, tham danh vọng nhưng quan trọng là ít hay nhiều. Chúng ta chạy theo, đắm nhiễm, bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa tàn nhẫn chỉ cần đạt được để rồi đánh mất hạnh phúc. Nếu ta thấy được điều đó là tham thì đó là đang “quán tâm”. Lúc này, quyết định đưa ra phương án “buông bỏ” để tìm lại lý tưởng, hạnh phúc thật sự nhưng chúng ta “buông” liệu có thật sự “bỏ”? Còn sợ, còn mong cầu là còn tham. Có những điều rất vi tế mà chúng ta không thấy, nhưng khi ngồi “thiền” một cách thật tĩnh lặng, rồi suy nghĩ về vấn đề thì chúng ta phát hiện mình vẫn còn tham. Chẳng hạn, bạn là một người cực kì khao khát điểm số và cho rằng điều đó thể hiện bạn là người “giỏi”. Bạn bất chấp tất cả những xấu xa để đạt được. Một ngày, bạn nhận ra nó là tham, làm bạn đau khổ. Bạn thấy được rồi tuyên bố với mọi người “Tôi đã buông bỏ được” Nhưng khi cô gọi bạn lên trả bài, kiểm tra hay phát bảng điểm bạn lại sợ. Tại sao bạn sợ, điều gì làm bạn sợ? Có phải bạn còn tham, mong cầu điểm, hay gì đó nên bạn sợ? Cuối cùng mình lại đi vào con đường cũ mà không hay biết, vô tình rơi vào vòng xoáy khổ vị. Cuộc đời chúng ta vô vàn chữ “lầm”: thương lầm, ghét lầm, buông lầm. Tất cả chữ lầm hiện hữu là do ta chưa thật sự nhìn nhận nó một cách đúng đắn, vì nó quá vi tế. Nhưng ngồi thiền quán chiếu lâu ta mới có thể thấy. Ta nói buông bỏ nhưng thật chất ta chỉ để đó rồi một ngày sẽ cầm nắm lên lại. Ta ăn món đó nhiều nhất khi ta thèm, đó là tham. Ăn xong rồi ta nói: “Mai mốt tôi không bao giờ ăn nữa!”. Khi nào ta nói câu đó? Khi ta đã ăn xong món đó rồi. Nhìn thấy được sự tham của mình là do đâu thì đó là “Quán tâm tham”. Tâm sân giống như một trạng thái tâm lý nơi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và không bị ảnh hưởng bởi biến động xung quanh. Tuy nhiên, trong trường hợp chúng ta giận dữ và nói rằng: “tôi không giận”, điều này có thể không phải là quán tâm vô thường đích thực. Cũng giống như câu: “U mê mà không biết mình u mê là người thật sự rất u mê”. Thay vào đó giữ im lặng về cảm xúc của mình, quan trọng hơn là bạn có thể chấp nhận và hiểu rõ nguyên nhân của sự giận dữ và cách nó ảnh hưởng đến bạn và người khác rồi chấm dứt nó thì đó lá nhìn sự vô thường của tâm sân hận. Nhìn tâm không phải là việc giả vờ hoặc phủ nhận cảm xúc của chúng ta, mà là khả năng nhìn nhận và chấp nhận cảm xúc đó mà không bị vấp ngã hoặc bị nuốt trôi bởi chúng. Điều quan trọng là bạn có thể tìm hiểu tại sao bạn cảm thấy giận dữ, có thể thảo luận một cách xây dựng với người thày/người tham vấn, và tìm cách giải quyết xung đột một cách ít gây tổn thương hơn. Hay khi có những mối quan hệ nghịch lòng nhau. Ta nghĩ ta đã hết giận, buông bỏ, nhưng khi ta ngồi thiền tĩnh lặng, ta phát hiện ta suy nghĩ mãi về vấn đề đó nghĩa là ta chưa buông được cái giận nên ta còn nghĩ về nó, nếu không giận ta sẽ không nghĩ về nó vì không có vấn đề nào ở đây. Hoặc khi đi hành thiền, chân không mang dép ta sẽ cảm nhận viên sỏi một cách rõ ràng nhất, nếu ta khởi lên tâm ghét nó vì làm ta đau đó là ta đang sân một biểu hiện của tâm sân. Đôi khi ta hay nói với mọi người rằng: “Tôi rất thương mọi người dù mọi người làm gì tôi cũng không tức giận!”. Vậy liệu có thật sự thương, phải chăng quán tâm sân là như vậy? Chẳng hạn, một con muỗi cắn ta, ta cảm thấy đau đớn ta sân giận đập chết nó? Một con muỗi nhỏ bé "động chạm" ta, ta không thương nổi, sao một con người đầy mưu mô ta có thương được! Không đó chỉ là lời hứa, lời nói suông của ta, nó không thật. Cũng vậy! Tâm người không bao giờ chắc chắn một phút giây nào. Nó thay đổi trong mỗi sát na. Không phải khi ta ngồi bất động mới thấy được sự thật mà khi hành thiền quen dần ta áp dụng nó ở mọi nơi, mọi lúc, mỗi giây, mỗi phút thiết lập cho ta chánh niệm hiện tiền nghĩa là sự tập trung ở hiện tại nó sẽ trở thói quen. Khi gặp chuyện thì ta sẽ biết nó là tâm gì. Do đó, mà khi ta khởi cái tâm giận ta biết ta giận, khởi tâm tham ta biết ta tham, khởi tâm si ta biết ta si. Thấy vô thường, tính thật giả của tâm rồi từ từ đoạn trừ nó. Không có sự khó chỉ sợ ta không nhận biết nó là tâm gì rồi mê muội, bám chấp để ngày qua tháng lại mưa dầm thắm sương, ta đau khổ. Nhưng điều này còn phụ thuộc vào từng khoảng thời gian ta hành thiền dài hay ngắn. Thời gian ban đầu ta không biết tâm ta thật sự ở đâu nhưng khi ngồi khoảng thời gian dài và áp dụng vào cuộc sống tâm ta ở trong thực tại. Một con người tâm như thế nào thì cuộc sống của người đó. Tâm đẹp cuộc sống đẹp. Giống như việc chế trà với một cái tâm thực tại an nhiên không có tham, sân, si thì sẽ luôn ở phút giây hiện tại và khi cầm rót trà sẽ không có sự hấp tấp, từ tốn nhẹ nhàng không có một giọt trà rơi ra. Chén trà rót một lượng vừa đủ, khi bưng trà tâm vẫn chánh niệm cảm nhận hương thơm, vị đắng, ngọt một cách rõ ràng nhất thì người đó tâm đang ở thực tại. Thực tập quán chiếu vô thường trong cuộc sống hàng ngày là một cách để chúng ta nhìn nhận và chấp nhận sự vô thường của mọi hiện tượng trong cuộc sống. Vô thường có nghĩa là mọi thứ đều thay đổi và không cố định. Bằng cách nhìn nhận sự vô thường, chúng ta không bị mắc kẹt trong sự gắn bó hoặc đau khổ với những thay đổi. Thực tập quán tâm vô thường giúp chúng ta giải phóng khỏi sự gắn bó và đau khổ, và mang đến sự tự do và bình an trong tâm hồn. Tác giả: TN Thánh Hòa
Biên tập: QH Mỗi chúng ta khi được sanh ra ai rồi cũng sẽ trải qua những lúc thăng trầm của cuộc đời. Đối với người thế gian thì dù sống tại bất cứ hoàn cảnh, môi trường nào, vật chất đủ đầy hay thiếu thốn thì ai cũng đã từng thốt lên rằng “Sao tôi khổ thế này?”. Ngay cả khi chúng ta may mắn được sống trong môi trường tốt, được gần gũi thầy lành bạn tốt song đời sống tập thể cũng sẽ không sao tránh khỏi có nhiều vấn đề phát sinh tác động lên chúng ta trên cả hai phương diện là thân và tâm. Vậy làm sao chúng ta có thể tiếp nhận và chuyển hóa những điều xảy đến với chúng ta một cách hiệu quả nhất? Câu trả lời là áp dụng công phu tu tập dựa trên giáo lý của Đức Phật, đặc biệt phương pháp thiền Tứ Niệm Xứ được xem như một phương pháp thực tập gắn liền với đời sống công phu tu tập hằng ngày của chúng ta. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày chúng ta sẽ luân phiên trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau đem lại. Như khi vui mừng đó rồi lại có cảm giác bất an, lo âu, chán nản, giận hờn. Đây là các trạng thái cảm xúc, thuộc về hành uẩn. Bàn về thọ uẩn, chúng thường khá vi tế và cần sự chú tâm quan sát để khổ thọ không đưa đến bất thiện nghiệp nơi thân hành và ý hành. Cảm thọ chính là những cảm giác của mình khởi lên khi sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp làm cho tâm thức chúng ta sinh ra cảm giác như vui vẻ (lạc thọ), buồn khổ (khổ thọ) hay không vui không buồn (bất khổ bất lạc thọ). Như khi ta bệnh có thể có những cảm giác mệt mỏi hoặc khó chịu như vậy cảm giác có nguồn gốc từ thân hoặc khi ta thương yêu một người cảm giác hân hoan vui vẻ đó là cảm giác từ tâm. Khi mới hành thiền chúng ta rất dễ bị những cảm giác cá nhân chi phối như tê chân, đau lưng, mệt mỏi hay ngứa ngáy nơi thân, từ đó chúng ta rất khó chịu vì những cảm giác đó đem lại, đó chính là khổ thọ. Khi ta chưa có được chánh niệm vững vàng nếu khổ thọ xuất hiện thì ta lập tức nhận diện sau đó phản ứng lại bằng cách xua đuổi, diệt trừ nó, ví dụ như khi tê chân ta muốn đổi tư thế ngồi hay duỗi thẳng chân cho dễ chịu, hay đau lưng, đau vai ta muốn vươn vai ra cho thoải mái hay đi lại một chút cho “giãn gân cốt” rồi mới ngồi thiền tiếp. Khi đó phiền não nổi dậy và thúc đẩy chúng ta muốn làm thế này thế kia đồng nghĩa với việc chúng ta có thể đang mất chánh niệm, quên không quan sát trên các đề mục thì sẽ nhường chỗ cho các tâm ý như tham, sân, si dấy khởi. Tất cả những cảm thọ nặng nề, khó chịu, ngứa ngáy hay cảm giác như con gì bò trong cơ thể sẽ làm chúng ta lo lắng, khó chịu. Nếu khi ấy chúng ta cố gắng thực hành và không phản ứng lại những cảm giác khó chịu đó, thì những cảm giác này sẽ dần biến mất và sẽ không còn gây khó khăn trong quá trình hành thiền. Sở dĩ ta lo lắng, khó chịu vì chính ta không nhìn thấy thọ khổ chỉ là một đề mục khi hành thiền chúng ta biết rằng cơn đau rồi sẽ qua thôi. Vậy nên, khi có thể chấp nhận những cơn đau như một phần của cuộc sống, chúng ta dần học cách không còn muốn xua đuổi hay diệt trừ những cơn đau đó nữa, phiền não cũng theo đó mà bị đẩy lùi. Rồi một thời gian, khi chúng ta đã có kinh nghiệm thiền tập, thực hành đúng phương pháp, hơi thở ra hơi thở vô được điều hòa không còn cảm giác tê chân hay ngứa ngáy gì nữa thì chúng ta sẽ nhận diện được những cảm giác an lạc, hoan hỉ khi hành thiền, đó chính là lạc thọ. Những cảm giác thoái mái nơi thân và tâm khiến cho chúng ta muốn hành thiền thật nhiều để có được cảm giác đó và khi đó tâm tham muốn đang dẫn dắt chúng ta tìm kiếm những cảm giác thoải mái và muốn đắm chìm trong chúng; hay khi chúng ta không tìm kiếm được cảm giác thoải mái đó chúng ta còn khó chịu hơn việc đang bị thọ khổ chi phối. Một khi chúng ta nắm được phương pháp hành thiền, quan sát đúng đối tượng thì những cảm giác dễ chịu sẽ dễ làm cho chúng ta chìm đắm trong lạc thọ thì đâu đó chúng ta sẽ dễ quên mất việc quan trọng của hành thiền là phải quan sát đề mục khi hành thiền. Thọ lạc rất nguy hiểm vì nó làm chúng ta dễ bị đánh lừa cảm giác khi thực hành. Vì lẽ đó, chúng ta phải có chánh niệm trong sáng, chánh định kiên cố thì lúc đó ta mới có trí tuệ đúng đắn để không dính mắc, không còn tham muốn nắm giữ cảm giác thọ lạc đó nữa. Việc kiên định thực hành như vậy sẽ giúp chúng ta giữ vững lòng tin và không bị lầm đường lạc lối. Tác giả: TN Phương Quang
Biên tập: QH Chánh niệm được đưa vào huấn luyện cho nhóm quân cảnh tại Mỹ từ nhiều thập kỷ, đạt được nhiều lợi ích tinh thần đáng kể[1][[2]. Nhưng... ...those skills are often taught in nontraditional ways. In firearms training, for example, recruits are taught to breathe and meditate to reduce stress and improve accuracy[3]. Nhiều thập kỷ kể từ khi Chánh niệm đương đại được đưa vào huấn luyện và đào tạo các lực lượng vũ trang tại Mỹ, đã xuất hiện các tranh cãi về cách thức Chánh niệm bị lược bỏ các yếu tố truyền thống mang góc nhìn đạo đức[4]. Theo đó, các sĩ quan trước đây được huấn luyện tập trung cao độ, lược bỏ chấn thương tâm lý, và bình ổn cảm xúc để tiếp tục nhiệm vụ của những "chiến binh" trên chiến trường. Bài viết trên The Washington Post năm 2015 đã nêu lên những "điều chỉnh" đáng kể trong mô thức huấn luyện quân cảnh mới, nêu bật nội hàm của "những người bảo vệ" mang vũ trang đứng trước những công dân yếm thế. Tuy vậy, mô thức huấn luyện mới này vẫn rất khó để hiện thực hoá, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay[3]. Câu hỏi đặt ra là: những vị thày huấn luyện có đủ hiểu về Chánh niệm trong bối cảnh truyền thống để ứng dụng phù hợp với cảm quan thời đại chưa? Chúng ta nên cẩn trọng những gì khi thực hành chánh niệm đương đại? --QH-- Cuộc đời vốn dĩ có khổ. Những nỗi khổ đau luôn bao trùm và chồng chất lên nhau. Vậy khổ do đâu mà có? Từ đâu mà khổ sinh ra? Con người họ cứ mãi đổ thừa rằng khổ là do cuộc đời này mang lại. Nhưng ở góc nhìn của một người học Phật, khổ hiện hữu là ở nơi tâm mình. Tâm ta hay thân ta, sáu căn của ta, thân ngũ uẩn này của ta, khi ta sinh ra thì những ý nghĩ đó đã được mặc định cho ta từ cha mẹ, từ thân quyến, từ môi trường xung quanh và các mối quan hệ xã hội. Những mặc định đó dần hình thành trong sâu thẳm tâm thức của ta mà chính ta không thể nhận thức được. Đó là “ngã”. Ta thường hay bồi dưỡng cho cái ngã của ta trong vô thức, dần dần, cái ngã tham lam, cái ngã đầy sân hận và si mê, cái ngã điều khiển ta mà ta lại vô tình cho rằng những hành vi của mình là đúng. Nếu là một con người chưa được học tập giáo lý nhà Phật thì làm sao biết được mà dừng lại những tham muốn của tâm và thân, làm sao biết được khổ là nơi tự ta sinh khởi chứ không phải do chỗ khác mà có hay làm sao biết được con đường để diệt sự khổ đau ấy. Vậy nên, là một người xuất gia cần phải biết con đường dẫn đến sự diệt tận khổ đau ấy là con đường tu tập Thánh đạo Tám ngành, nghĩa bao hàm trong tu Giới, tu Định và tu Tuệ, tức Tam Vô Lậu Học. Mà Thiền chính là phương pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni Buddha) đã tinh tấn tu tập xuyên suốt trong 49 ngày đêm dưới cội cây Tất Bát La (còn gọi là cây Bồ Đề - Bodhi Tree) để chứng được Thánh quả tối thượng, thấu rõ nguyên nhân của khổ đau mà sáng tỏ con đường diệt khổ. Phật Quang Đại Từ Điển giải thích rằng Thiền là Hán dịch từ tiếng Sanskrit (Phạn) Dhyana (Thiền-na) và tiếng Pali là Jhana (Thiền), có nghĩa là Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, và Công đức tùng lâm. Thiền chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào một đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp cho tất cả Phật tử và không phải Phật tử… nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là một loại định nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. (Thích Quảng Độ, Phật Quang Đại Từ Điển, Tập V, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất bản, tr. 5781-5782). Này các thầy Tỷ-kheo, con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt qua mọi sầu não, khổ, ưu, thành tựu chánh lý, hiện chứng Niết-bàn là con đường này: Đó là Bốn Niệm Xứ. Hiểu được định nghĩa về Thiền Tứ Niệm Xứ, con đường sáng tỏ chân lý ngày một được khai mở và đến gần. Bốn Niệm Xứ là bốn con đường quán niệm về Quán Thân, Quán Thọ, Quán Tâm và Quán Pháp. Con người hạnh phúc hay khổ đau là do nơi tâm mình. Khi thân xúc chạm, tâm sẽ cảm thọ được vật chất tiếp xúc qua thân hay tinh thần tiếp xúc qua tâm. Tâm cảm thọ được là thông qua quá trình trải nghiệm, học tập trong đời sống lẫn trong môi trường giáo dục hình thành nên vòng tròn nhận biết có sẵn trong tâm thức. Nhưng nếu con người chưa được tiếp cận giáo lý nhà Phật, đôi khi con người cảm thọ sự khổ đau nhưng lại cho nó là sự vui thích, như trong Tâm lý học có nhắc đến bệnh lý “khổ dâm”, tức người đó sẽ tận hưởng khoái lạc trong sự hành hạ thể xác nặng nề ở bạn tình của mình. Sau khoái lạc, người đó sẽ cảm thấy đau đớn về thể xác cũng như những hối hận liền xuất hiện ở tâm. Vậy đó có phải là thân và tâm đều chịu khổ do ham muốn nơi thân không? Vì thế, một người xuất gia, từ những ngày đầu chập chững học tập giáo pháp nhà Phật, chấp nhận cắt bỏ những ràng buộc của cuộc đời, khắc kỷ thân tâm mong mỏi một ngày đoạn dứt điều ác, thực hành điều thiện mà thành tựu chân lý thì việc đầu tiên phải xác định rõ được con đường mà đức Phật đã tu tập chứng ngộ là ở đâu? Đức Phật Thích Ca, Ngài đã trải qua suốt bao năm tháng ròng rã tu tập thiền, tuy là thiền ngoại đạo (Bà-la-môn giáo) nhưng Ngài cũng đã chứng đến cảnh Phi tưởng phi phi tưởng xứ-cảnh giới cao nhất của Thiền ngoại đạo, tuy vậy Ngài vẫn cảm thấy chưa đoạn dứt cảnh sanh tử khổ đau; cho đến khi Ngài quyết từ bỏ lối tu khổ hạnh, chuyên tâm thiền định trong suốt 49 ngày đêm thì liền chứng đạo quả. Ngài dạy nguyên nhân chính để nhập định và đạt được trạng thái đầy uy lực tột đỉnh của nội tâm đó chính là khả năng buông xả và từ bỏ. Nói tóm lại, Thiền là một trong ba thành tố cốt lõi của con đường Trung đạo hướng đến sự giải thoát. Ai trong chúng ta không thực hành thiền định thì chắc chắn không bao giờ ta đạt được tuệ giác, đạt được Niết-bàn như lời Đức Phật đã dạy:
Quán Tâm là một trạng thái tâm chuyên chú, chuyên nhất chỉ nghĩ đến tâm mình. Một ngày, hai ngày, hay vài tháng vài năm, nếu chúng ta không nhìn lại tâm mình thì chắc hẳn tâm ta đã luôn chạy theo phiền não tham muốn, yêu ghét, tốt xấu, danh vọng địa vị hay quyền uy của cuộc đời. Vậy người tu là phải buông xả những điều kiện ngoài thân mà quay về chăm sóc trưởng dưỡng đạo tâm. Khi tâm ta tĩnh lặng, ta có sự cảm nhận và trải nghiệm sâu sắc về tâm, cảm nhận được sự tồn tại của tâm và mọi thứ xung quanh. Từ đó mà diệt trừ được các ác pháp nơi thân đã làm, tâm đã nghĩ và duy trì được định hướng thiện lành mà tâm mong muốn, cũng như mang lại sự an lạc nội tâm. Trải qua quá trình được học tập, tiếp thu kiến thức và trải nghiệm thực hành Thiền trong suốt một học kỳ vừa qua niên khóa 2023-2024, tôi đã có những trải nghiệm sâu sắc và đáng nhớ khi thực hành thiền quán tâm của mình. Tôi thấy rõ những sự hơn thua, thương ghét, đố kỵ, ganh tỵ nơi tâm. Những sự tu tập trước đây của tôi, tôi cảm thấy mình thật ích kỷ. Khi lần đầu ngồi lại một chỗ, nhắm mắt lại, điều chỉnh hơi thở vào ra, tâm tôi liền chỉ xuất hiện những người hay nói xấu tôi, trách móc tôi, tôi liền chỉ thấy thân mình đang dần nóng lên, sự tức giận liền nổi lên và ý nghĩ “trả đũa” đã xuất hiện. Những người làm cho tôi vui, tôi hài lòng, tôi cũng chỉ cảm thấy họ lợi dụng những lợi ích khi ở cạnh tôi mới làm tôi vui, tôi liền nảy sinh tư tưởng ghét họ và không muốn nhìn mặt hay giúp đỡ ở lần gặp mặt sau. Có phải chăng tâm tôi luôn hiện hữu những ý nghĩ như thế, tuy không thể hiện ra những hành động ngoài thân, nhưng trong sâu thẳm tâm tôi thật sự ích kỷ. Những cảm giác, tri giác, những tâm lý mà tôi luôn cố nghĩ rằng mình luôn lương thiện, luôn vui vẻ và hòa đồng có thật sự là tốt không? Tốt cho người khi tôi vui vẻ bên ngoài mang lại sự vui vẻ cho họ nhưng liệu tôi có thật tâm tốt không? Hay những ý nghĩ, tâm lý ấy có thật sự mang lại niềm an lạc tự nơi tâm không? Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra trong đầu tôi lúc ấy. Những buổi thiền tập quán hơi thở sau đó, tôi dần dần lấy lại được sự bình tĩnh vốn có của tâm, từ từ tôi phân biệt và suy tư về nó, điều gì khiến tôi vui, điều gì khiến tôi buồn, tôi hạnh phúc lúc nào và ở đâu? Khi hơi thở dần được điều hòa ở lần ngồi thiền sau, tôi nhận thức được rằng, do tâm tôi còn bám víu và chấp chặt vào cái ngã của mình, sợ cái ngã tổn thương, sợ cái ngã đau khổ mà thân tâm tôi lúc nào cũng sẵn sàng hi sinh vì cái ngã. Ngay khi đó, tôi liền cảm thấy rằng bản thân cần buông xả những ràng buộc đó, vì có xả bỏ thì mới có sự an lạc nơi tâm. Có an lạc tự tâm thì mới tiếp thu được chân lý nhà Phật, từ đó mà phát triển được tuệ giác, thấu rõ được cội nguồn và căn cơ của các pháp. Khi từ bỏ được những ước vọng tham lam của tâm, những ham muốn ăn mặc, ngủ nghỉ, danh lợi của thân, tôi liền nhận thấy rõ thân tâm nhẹ nhàng thong dong, không còn vướng bận vào bất cứ điều gì hay việc gì xảy đến, thấy rõ mọi thứ xung quanh hiện diện được là một việc hy hữu. Nếu không có những khổ đau trong mong cầu không đạt được, những yêu thương không được đáp trả, những mối thù hận riêng tư hay những thành tựu mà bản thân có được trong quá khứ thì chắc hẳn việc thiền tập quán tâm sẽ không mang lại kết quả tối ưu. Sau khi được trải nghiệm môn học, tôi thấy rõ trong mình luôn hiện hữu sự hạnh phúc, niềm an lạc mà trước nay chưa từng có được. Tôi cảm nhận được những bước chân mà tôi đang đi, hơi thở mà tôi đang thở, bầu không khí mà tôi đang nương hơi thở duy trì sự sống, những chiếc lá, cành cây hay tất cả những người đến với tôi,… tôi đều thật tâm cảm thấy mỗi sự vật hiện hữu, hữu hình hay vô hình đều mang một ý nghĩa tuyệt vời. Tất cả mang một sứ mệnh cao cả giúp tôi có được hạnh phúc ngày hôm nay. Tôi thầm tri ân tất cả. Tác giả: TN Thánh Minh
Biên tập: QH Trong Kinh Pháp cú kệ 3, Đức Phật đã dạy: Tâm hoảng hốt dao động Quán tâm là sự tập trung nhận diện và làm việc với các tình huống khác nhau của tâm. Kinh niệm xứ (MN 10) cũng nói rõ, khi quán tâm, chúng ta sẽ biết rõ liệu tâm của mình có tham lam hay không. Khi tập trung nhìn vào tâm, chúng ta sẽ tường tận thấy hết các diễn biến khác nhau của nó. Đặc biệt, đối với những người mới bắt đầu làm quen với thiền quán, sẽ không tránh khỏi sự vọng tưởng của tâm. Chính bản thân tôi cũng từng trải qua những trạng thái như vậy, những vọng tưởng liên tục nối tiếp nhau, khiến cho tâm không được yên. Trong những tình huống như vậy, tôi đã học cách chế ngự bằng cách hít thở thật sâu, bước đầu đếm hơi thở từ 1 đến 10 và ngược lại để xua tan những vọng tưởng đó trong đầu. Về tâm, Đức Phật đã giảng rằng có tổng cộng 16 loại tâm có thể lấy làm đề mục thực hành quán tâm, bao gồm:
Nhờ sự nhìn tâm như vậy, khi chúng ta có tâm tham khởi, sẽ biết khi nào ta đang tham; hay khi nào thấy ta đang sân nếu thực hành chánh niệm ngay ở thời khắc tâm sân sinh khởi. Trong cuộc sống hàng ngày, làm thế nào để tránh khỏi những điều không vừa ý? Nhiều khi sẽ có những chuyện khiến chúng ta bực dọc khó chịu. Người đời có cái khó khăn của họ, còn người tu sĩ chúng ta lại có những cái khó khăn của người tu sĩ. Đã sinh ra làm một con người, ai cũng sẽ có những vấn đề, thử thách khó khăn cả. Việc thực hành thiền cũng vậy, rất cần có thời gian để tự mình trải nghiệm. Thiền không phải một hình thức chỉ để chúng ta nói suông, nó là một quá trình dài, cần sự kham nhẫn của cá nhân đó. Là một hành giả mới bắt đầu tìm hiểu về thiền, cần biết rằng Thiền được chia ra rất nhiều nhánh, tuy nhiên ở đây tôi chỉ nói đến một khía cạnh của việc thực hành quán tâm như trong Kinh Tứ Niệm Xứ mà thôi. Chính vì bản thân có duyên lành được trải nghiệm cùng đại chúng trong chuyến đi về Trung tâm thiền Vipassana của thầy Hiệu trưởng, mà với tôi đó là một ngày tu trải nghiệm thật đáng nhớ. Nó ấn tượng bởi vì, đây là lần đầu tiên bản thân tôi được kinh nghiệm một thời khóa như các hành giả chuyên tu. Tuy đã được thông báo trước đó là hai tuần, nhưng trong lòng tôi thấy nôn nao vô cùng. Bản thân luôn ở trạng thái nghi ngờ cho chính mình, bao nhiêu câu hỏi luôn khởi trong đầu, liệu trong chuyến đi này, mình có thu hoạch được gì hay không, nhiều câu hỏi đặt ra rồi lại trăn trở xen lẫn là sự sợ hãi. Sở dĩ lo lắng như vậy vì bản thân tôi trước giờ ít khi thực hành thiền, lại chưa có kinh nghiệm thực hành thiền nhiều. Có chăng nữa là thi thoảng tôi có đi kinh hành, vì bản thân tôi hay thường xuyên bị áp lực, không biết chia sẻ, tâm sự cùng ai. Những lúc như vậy tôi thường đi kinh hành, cốt để thả lỏng tâm mình, những lần đó khiến tâm tôi rất bình yên. Việc đó cứ âm thầm lặp đi lặp lại khiến cho tôi cũng trở nên thuần thục và cảm thấy thích thú với nó, xem nó như một cách giải tỏa áp lực. Rồi ngày ấy cũng đã đến, ngay từ sáng sớm khoảng 6h, hai chiếc xe đã chờ đợi chúng tôi ở đúng địa điểm. Đại chúng này, tức là tập thể ni sinh khóa IX của chúng tôi, sẵn sàng bắt đầu hành trình dài hơn 25km từ nội thành Mỹ Tho đến huyện Châu Thành, Tiền Giang. Cuối cùng, chúng tôi đã đặt chân đến Trung tâm thiền của thầy. Điều đầu tiên khiến tôi say mê là sự yên bình nơi đây. Lối vào trung tâm được bao bọc bởi những hàng dừa xanh mát, không khí phải nói hết sức trong lành. Dọc hai bên lối đi, tôi chỉ cảm nhận một màu xanh của cây lá, tạo nên một khung cảnh đậm chất thiền nơi vùng thôn giã. Sau một lúc được nghỉ ngơi, sư cô giáo thọ đến và bắt đầu hướng dẫn chúng tôi vào bên trong chánh điện để ngồi thiền. Ngồi yên lặng như thế tầm khoảng 30 phút gì đó rồi chúng tôi được nghỉ giải lao, bắt đầu công cuộc đi kinh hành xung quanh Trung tâm thiền. Trước tiên, sư giáo thọ cho cả lớp ni chúng tôi xếp thành các hàng đối xứng nhau. Tuy nhiên, chúng tôi đều được nhắc nhở: "Tất cả mọi người phải tịnh khẩu trong lúc đi hành thiền, không ai được nói đến ai, hay ai được nhìn ai, mà phải tập trung tự mình trải nghiệm." Điều này thật sự tuyệt vời, vì sư giáo thọ mong muốn chúng tôi hiểu rõ hơn về lợi ích của việc hành thiền. Sau đó, chúng tôi bắt đầu những bước đi đầu tiên, đi chậm rãi với sự hướng dẫn của sư giáo thọ. Cả đại chúng theo đều theo nhịp bước đi trong khuôn viên Trung tâm, từng bước kinh nghiệm cuộc hành trình trên những đoạn đường không quá dài, nhưng vừa đủ để tâm trí tôi bắt đầu thấm nhịp. Ban đầu, tôi còn tò mò với cảnh đẹp xung quanh và đôi ba lần liếc mắt để nhìn xem. Sau khi sư giáo thọ nhắc nhở, tôi bỗng nhận ra và quay lại việc thực hành chú tâm. Khi những bước chân quen dần, một cảm nhận bình an chợt xuất hiện trong tâm và tôi bắt đầu nhận thức sâu sắc rằng hình như tôi chưa bao giờ thực sự sống cho chính mình. Những suy nghĩ trong đầu tôi xoay quanh một câu hỏi lớn: "Mình đang theo đuổi điều gì suốt thời gian qua?" Đó là câu hỏi quẩn quanh tâm trí tôi xuyên suốt buổi kinh hành. Những thắc mắc này khiến tôi hi vọng rằng mọi nghi ngờ trong tâm sẽ được giải đáp. Sau một thời gian kinh hành, tiếng chuông từ xa báo hiệu chúng tôi tập trung về chánh điện để bắt đầu giờ tọa thiền. Trong thinh lặng, mọi người tự tìm về chỗ ngồi của mình. Tôi chọn một vị trí gần sư giáo thọ, có lẽ do tin rằng từ trường ấy có thể giúp tôi ngồi yên. Đúng là một suy nghĩ khá con nít, vì khi bắt đầu ngồi xuống, tôi lại gặp khó khăn với đôi chân của mình bởi hậu biến chứng từ một chấn thương vỡ khớp gối do té xe năm học lớp 8. Cuối cùng tôi quyết định ngồi tư thế bán già cho đỡ đau chân. Lúc đầu, tôi cảm thấy thật khó khăn. Ôi thôi! Bao nhiêu vọng tưởng, suy nghĩ này đến suy nghĩ kia nó cứ xuyên suốt nối tiếp nhau khiến cho tôi cảm thấy bất an vô cùng. Tôi cảm thấy tự ti khi mà mình có những động tác nhúc nhích ngọ nguậy, không tài nào mà ngồi yên cho được. Thế rồi tôi chuyển hướng tâm trí đến sư giáo thọ, nhìn thấy hình ảnh người ngồi yên như một tượng Phật, tôi tự nói: "mình nhất định phải ngồi được". Thế là tôi bắt đầu, hít thở lại thật sâu, làm như vậy liên tục khoảng ba bốn lần gì đó rồi. Đây chỉ là cách tạm thời tôi muốn xua tan những suy nghĩ kia trong đầu. Bắt đầu tôi đếm từ 1 đến 10 và ngược lại như thế cho đến khi không bị nhầm, thì tôi không đếm nữa. Đó là cách mà tôi được học từ một sư cô ở Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức, chính sư cô đã dạy cho tôi khi tôi còn là phật tử. Dịp đó, tôi được tham gia cùng các bạn trong chuyến hành hương cúng dường. Khi ngồi một lát, vọng tưởng trong tôi cũng lần vơi bớt. Tôi bắt đầu cảm nhận một trạng thái an lạc hơn, và ngồi thiền lâu hơn so với mong đợi ban đầu. Vì trước giờ tôi chưa bao giờ ngồi lâu như vậy. Thời gian trôi mau, tôi chuyển qua đề mục thiền tâm từ. Tôi tác ý muốn hiểu rõ bản thân và tâm hồn, chúng đang muốn điều gì thế? Đến lúc này, một điều bất ngờ nhất đã xảy ra. Tôi muốn chọn một đối tượng để rải từ tâm, nhưng lại không thể nghĩ ra ai. Thế là tôi chuyển đối tượng thành chính mình. Tôi thử trải lòng với chính bản thân mình. Khi nhìn lại thật sâu thâm tâm tôi, tôi mới thực sự cảm nhận được tại sao hình ảnh của những người đã từng gây tổn thương cho mình lại hiện lên quá chi tiết như vậy. Điều mà tôi nhận ra là bản thân mình trước giờ chưa bao giờ tha thứ cho ai. Khi đó, tôi mới hay rằng suốt thời gian qua, mình đã lừa dối chính bản thân mình. Tâm mình còn sân lắm, còn chấp thủ lắm, và mình thực ra chưa thể buông bỏ chấp niệm. Đây là phát hiện thứ hai tôi nhận ra nơi tâm mình ngay tại giây phút tọa thiền ấy. Bỗng dưng, tôi cảm thấy biết ơn vô cùng. Thầm cảm ơn mọi nhân duyên hôm nay, biết ơn nhất vẫn là Sư cô giáo thọ, người đã tạo nhân duyên cho tôi và các bạn trong lớp, giúp chúng tôi trải nghiệm một ngày tu tập hết sức ý nghĩa. Bên cạnh đó, còn biết ơn thầy Hiệu trưởng đã trợ duyên phương tiện để lớp chúng tôi được thuận lợi và an toàn đến thực hành tại Trung tâm. Thương lắm những quý cô phật tử đã dành một ngày ân cần chăm sóc vật thực cho tôi và toàn thể đại chúng. Những món ăn được bày biện rất đầy đủ, chu đáo. Sau khi thọ thực xong, chúng tôi được nghỉ trưa. Đầu giờ chiều, khoảng 13h30p, chúng tôi tập trung để tiếp tục ngồi thiền, kinh hành, và nhiều hoạt động khác. Tất cả lặp lại giống như buổi sáng. Khoảng 16h, lớp chúng tôi được nghe bài pháp của thầy Hiệu trưởng và Pháp đàm cùng sư cô giáo thọ. Thầy và cô đã tận tình chia sẻ những kiến thức mà thầy cô kinh nghiệm được cho chúng tôi nghe. Những kiến thức mà chúng tôi chưa biết, hay những thắc mắc trong việc tọa thiền, chúng tôi đều được thầy và sư giáo thọ giải thích tận tình. Sau thời pháp đàm, cứ ngỡ là sẽ được về, nhưng Thầy và quý Phật tử lại tiếp tục thiết đãi chúng tôi bữa ăn nhẹ buổi chiều trước khi lên xe trở về. Suốt quãng đường về, trên khuôn mặt chúng tôi, ai nấy cũng nở nụ cười an lạc sau chuyến đi đó. Một ngày tu trải nghiệm của tôi đã đi qua như thế đó - một kỷ niệm khó quên. Mục đích của quán tâm trên tâm là nhằm thấy rõ tính duyên sanh, vô thường, vô ngã của các pháp hữu vi. Nó biểu hiện trong mọi tâm thức, chúng chỉ là các hiện tượng chuyển biến sanh diệt, không phải là thường hằng, thường trụ, có thực, đáng được xem hoặc đồng hóa là 'tâm tôi', là 'suy nghĩ của tôi'. Đức Phật cũng từng dạy rằng: 'Một khi chỉ một thoáng tâm sân hận khởi lên mà chúng ta không kiềm chế khắc phục được, thì lập tức muôn ngàn đau khổ tiếp nối theo sau'. Chúng ta cũng thường hay cho rằng thân và tâm thì rất quan trọng, nhưng ngược lại đối với Đức Phật thì lại khác. Ngài cho rằng: 'Nghiệp và ý thì mới quan trọng, khi ý suy nghĩ, miệng nói năng thì thân mới hành động'. Cho nên, Đức Phật nói “Ý dẫn đầu các pháp, chính tâm ý tạo tác nên duyên hành mà khiến cho chúng sanh tạo nghiệp sai khác.” Nếu muốn chế ngự tâm ý, trước hết chúng ta cần thực hành chánh niệm để quán chiếu những vọng động nơi tâm, làm lắng xuống những vọng động kia và khi đủ duyên cần dứt trừ các phiền não, lậu hoặc. Nhờ đó, tâm sẽ được an nhiên tự tại. Cùng với các Ba-la-mật vun bồi, sự nỗ lực công phu tu tập tới một lúc nào đó sẽ thánh nhập đạo-quả Vô thượng bồ đề, tức Niết bàn vị lai. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Tác giả: TN Tuệ Quang
Biên tập và hiệu đính: QH. Thiền Tứ Niệm Xứ là thiền của Phật giáo và được mọi người biết đến với các tên khác như thiền minh sát tuệ, thiền quán hay vipassana. Đây là pháp môn được Đức Phật thực hành trước đó. Tọa thiền liên tục sau 49 ngày đêm, ngài nhập quả vị A La Hán Chánh Đẳng Giác. Từ đó cho thấy vị giáo chủ của chúng ta giác ngộ qua việc thực hành thiền chứ không phải một pháp môn nào khác cũng không phải thiền của ngoại đạo. Mục đích chúng ta theo đạo Phật là học Phật để giác ngộ, vậy thực hành thiền Tứ Niệm Xứ như thế nào để được giác ngộ giải thoát như Ngài thì đó là vấn đề chúng ta cần phải quan tâm và chú ý tới. Tứ Niệm Xứ là phương pháp tu tập quán niệm quan trọng của Phật giáo được Đức Phật nhấn mạnh, và là một trong những giáo lí căn bản của đạo đế. Theo danh từ Phật học Tâm Tuệ Hỷ, trang 535, định nghĩa về Tứ Niệm Xứ như sau: "Tứ là bốn, Niệm (S: smrti P: sati) là phát khởi ý thức, là để tâm tới. Niệm là nhớ tới, chú tâm theo dõi, để ý không xao lãng, quán niệm. Xứ là nơi chốn, đối tượng hay lĩnh vực. Xứ (S: upasthana. P: upatthana) cũng có nghĩa là ở lại, an trú, duy trì sự có mặt của mình [...] Tứ Niệm Xứ là bốn lĩnh vực mà hành giả phải quán niệm, duy trì sự có mặt trong đó, trụ tâm vào đó để quán chiếu, nhận ra thực tánh của nó. Còn gọi là Bốn Niệm trú, tức là duy trì Chánh niệm trên bốn nhóm đối tượng, để quán thấy rõ hành tướng của chúng". Bốn nhóm đối tượng quán sát đó là: quán niệm thân thể ở nơi thân thể, quán niệm cảm thọ ở nơi cảm thọ, quán niệm tâm thức ở nơi tâm thức và quán niệm đối tượng tâm thức (Pháp) ở nơi đối tượng tâm thức. Trong quá trình hành thiền này, mục đích là duy trì chánh niệm trên bốn lĩnh vực thân, thọ, tâm và pháp, giúp loại bỏ năm triền cái và phát triển thất giác chi. Đây là lối thiền tập để nhìn rõ thực tại diễn ra như chính nó đang là. Điều quan trọng khi thực hành Tứ Niệm Xứ là: tinh tấn, tỉnh giác hoàn toàn, để chế ngự mọi tham luyến thế gian. Hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ không nên khởi tâm chấp vào đối tượng mà chỉ thấy biết và hướng đến cái thấy biết chân chính. Phương pháp quán chiếu này được nói rõ trong Kinh Đại Niệm Xứ và Đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. “Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời." (Đức Phật, từ Trường Bộ Kinh số 22, Kinh Đại Niệm Xứ.) Qua những lần được Sư hướng dẫn hành thiền cùng đại chúng, con đã được thực hành thiền rải tâm từ, quán tử thi, thiền đi và thiền quán thân thể nơi thân thể qua việc thực tập quán hơi thở. Có lẽ, dùng thuật ngữ Phật học hơi khó hiểu nhưng có thể hiểu nôm na rằng, thực tập quán hơi thở là sự theo dõi hơi vào, hơi ra của hơi thở, bởi thân con lúc này đây đã ngồi yên, chỉ có hơi thở, sự phồng xẹp của bụng là chuyển động. Một hơi thở đi ra là biết hơi đi ra, hơi thở vào thì biết hơi thở vào... cứ thực hành thấy biết như vậy. Con tưởng chừng mọi thứ sẽ rất dễ vì ai mà chẳng thở, trước giờ mình cũng vẫn thở đó thôi, có gì đâu mà khó mà phải thực hành, nhưng cho tới khi thực hành con mới biết: đó giờ mình thở mà không biết mình đang thở, mình thở sai mà không biết mình đã thở sai. Thở ra bụng phải xẹp, hít vào bụng phải phình căng lên. Nhưng không! Đó giờ con đã làm ngược lại và thế là sai cách thở. Trước con vẫn thở nhưng lại không hề biết mình đang thở, chỉ khi con làm mệt, chạy hay mất sức nhiều, cần thở mạnh con mới phát hiện ra rằng con đang thở hồng hộc một cách thô tháo. Trong buổi thực tập thiền quán thân trên thân qua hơi thở, lúc đầu, có sự tác ý của con vào hơi thở đầy sự gượng ép và rất nặng nề. Con hít một hơi sâu, bụng không căng được nữa, nín lại một giây rồi thở ra từ từ cho tới khi bụng xẹp. Cứ như vậy, chỉ được vài hơi vào ra là con đã mệt. Con thực tập lại, lần này con tập thở vào ra một cách tự nhiên nhất và con để ý thấy, hơi hít vào sâu hơn hơi thở ra, con không còn thấy mệt, mất sức như lần trước đó. Con cảm nhận nơi đầu lỗ mũi, các lông mũi rung lên, một cảm giác nóng nhẹ ở đầu mũi khi hơi thở đi ra và hơi lạnh khi hơi thở vô. Thực tập hít thở vào con thầm cảm ơn thiên nhiên đã cho con nguồn không khí này, dừng lại hai giây con thở ra, hãy đi ra nào những tế bào bệnh tật, những năng lượng tiêu cực kia! Con thực tập và chú tâm sự vào ra của nó. Cảm nhận hơi đi vào phổi, tới cơ hoành, tới bụng thắt lại ở bụng rồi ngược lại, hơi đi từ bụng ra tới đầu mũi. Thực tập được một lúc, cảm nhận lúc này đã yên rồi đấy! Nhưng không! Cái gì khiến con mất đi sự chú tâm vào hơi thở thế này nhỉ? Đó là cái chân của con, nó đang cho con cảm giác tê tê, vùng tê bắt đầu lan ra từ bàn chân lên tới bắp thịt. Con nhúc nhích chỉnh lại để tìm cảm giác dễ chịu. Con cũng không còn chú ý tới hơi thở nữa, sự chú ý của con dồn vào cái chân bị tê. Nó tê và trong đầu con khởi lên ý nghĩ rằng hay là mình duỗi chân ra nhỉ? Không! Như vậy thì bao giờ mình mới ngồi được? Chẳng lẽ cứ đau một tí là lại đổi sao? Tê mỗi lúc càng nhiều rồi chuyển sang đau chân, nhức nhối và buốt. Con quyết định chuyển tư thế, con ngồi lại cảm giác đau vẫn còn. Con chợt nhớ ra mình từng bắt gặp đâu đó một câu nói rằng khi ngồi thiền mà bị tê là do ta thở không đúng cách nên máu không đưa ô xi tới vùng nào thì vùng đó sẽ gặp vấn đề. Con quyết định tập ngồi lại, chú tâm vào hơi thở. Lúc đầu còn hơi khó khăn vì cảm giác đau vẫn còn, con tác ý vào hơi thở theo dõi nó. Hơi thở vào ngắn biết hơi thở vào ngắn, hơi ra ngắn biết hơi đi ra ngắn, từ từ cảm giác đau ở chân cũng biến mất từ lúc nào không hay. Con cố gắng duy trì hơi thở đều và nhận diện nó lúc đi vào bên trong cơ thể, rồi cả khi đi ra ngoài. Boong! Tiếng chuông vang lên báo hiệu hết giờ ngồi thiền, nhỏ dần nhỏ dần chìm vào trong không gian... Vào một lần khác, Sư hướng dẫn con cùng đại chúng thực hành thiền đi. Trở lại thời gian đầu khi con bước chân vô chùa, một hôm thầy hỏi con: “Đang nghĩ gì thế?” Con giật mình bừng tỉnh nhìn thầy, chưa kịp để con trả lời, thầy nói: "Vọng tưởng phải không?" Con dạ một câu nhẹ cúi đầu. Kì thật lúc đó con đã nghĩ những chuyện lát nữa làm, giá như ngày hôm qua được ăn món canh chua thì ngon biết mấy, thèm quá... nhưng sao thầy biết nhỉ? Rồi thầy dạy con khi đi, đứng, nằm, ngồi phải có chánh niệm. Lúc đi thì áp dụng: chân phải chữ 'Di, Phật' chân trái chữ 'A, Đà'. Không phải ngẫu nhiên thầy dạy con như vậy. Là do con hậu đậu, vụng về hay làm bể đồ, thầy nói trước con quên sau... nên bữa đó thầy đã dạy con thực tập chánh niệm trong lúc làm việc. Khi được Sư hướng dẫn con nghĩ có lẽ con sẽ đi như cách thầy con chỉ. Ồ! Không nhé! Thiền đi không phải như cách con hiểu. Sau khi xem video Sư mở lên cho cả lớp, con mới biết thiền đi là như sư cô Nam tông trong video đã đi. Tới khi thực hành thiền, đi xung quanh chánh điện, con đã đi và quan sát đôi chân con. Lúc này con không thể chú tâm hoàn toàn vào hơi thở, con cảm nhận đôi chân con bước đi. Một chân nhấc lên hướng về phía trước khi vừa chạm đất, để giữ cân bằng chân còn lại con tác ý nhấc lên. Con cảm nhận sự co duỗi của hai chân, sự tiếp xúc của bàn chân với nền nhà, khi đi qua chỗ mát chỗ nắng, con quan sát mặt đất có sự trở ngại gì không, có con vật nhỏ bé nào không để tránh né. Thực tập được vài vòng con bắt đầu thấy mỏi lưng, việc nhìn xuống đất cũng khiến con mỏi cổ. Không biết theo quán tính, thất niệm hay do nhức mỏi mà con lại về với cách đi của thầy dạy, con đã thực hành bao năm nay. Con lại đi theo câu A Di Đà Phật được một vòng, con nhận ra mình có vọng tưởng, con đã nghe tiếng kêu ọt ọt của bụng, nó đang đói. Phải rồi hồi trưa con ăn ít. Con nghĩ xem tí học về ăn gì, thèm quả gì chua chua chấm muối ăn quá... con nhận ra khi con đã đi cả một vòng thực tập không có chánh niệm. Con dậm chân thật mạnh xuống nền nhà và đưa mình trở về với đôi chân đang đi bắt đầu lại từ đầu. Vào một ngày con nhận phiên nhà giảng, cầm ca đi tưới nước. Trong khuôn viên chùa có vài chậu cảnh đang độ ra bông. Con đứng lại nhìn một bông hoa: Tác giả: TN Viên Hải,
Biên tập & ảnh: QH. |
Quang HằngVới sự hứng thú trong Thiền, Phật học ứng dụng, và Sức khỏe tâm lý, các bài viết được góp nhặt và đăng tải với hy vọng giúp Đạo hữu và cư sĩ hiểu hơn về lợi ích của Thiền trong Tâm lý trị liệu. Archives
October 2024
Categories
All
|
RSS Feed
